Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Chuyên mục
Media
Báo cáo đặc biệt
Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Khám phá nhiều hơn với tài khoản
Đăng nhập để lưu trữ và dễ dàng truy cập những bài viết bạn yêu thích trên Bloomberg Businessweek Việt Nam.
BBWV - Giữa sức ép chính trị và nhiệm vụ chính, ngân hàng trung ương cần giữ vững tính độc lập vận hành thông qua uy tín, sự minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Hình ảnh: Bloomberg
Tác giả: Daniel Moss
10 tháng 08, 2026 lúc 7:00 AM
Tóm tắt bài viết bởi
Trong gần 50 năm qua, kể từ khi chủ tịch cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) khi đó là Paul Volcker thể hiện sự dũng cảm phi thường bằng cách đẩy lãi suất lên mức 20% để đè bẹp đà lạm phát phi mã, tính độc lập của các ngân hàng trung ương đã mang lại lợi ích cực kỳ to lớn cho nền kinh tế toàn cầu. Sự độc lập này đã mở ra một kỷ nguyên thịnh vượng lịch sử và làm dịu đi các chu kỳ tăng trưởng - suy thoái thất thường. Tuy nhiên, chính thành công đó, cùng với quyền lực to lớn được trao cho các nhà hoạch định chính sách, đi kèm với cái giá mà các nhà lập pháp cho rằng đã đến lúc phải trả.
Các ngân hàng trung ương, với sự tự do không bị ràng buộc bởi các chu kỳ bầu cử để điều hành nền kinh tế, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phản ứng trước những biến động về giá cả, việc làm và các đợt rung lắc dữ dội trên thị trường vốn. Nhưng không phải lúc nào họ cũng đúng. Họ đã chậm trễ trong việc xử lý cuộc khủng hoảng ngân hàng giai đoạn 2007-2009, duy trì lãi suất ở mức quá thấp trong quá nhiều năm sau đó dẫn đến những cáo buộc rằng họ đã tiếp tay thổi bùng bong bóng trên thị trường tài chính và bất động sản và họ đã để lạm phát vượt tầm kiểm soát khi các nền kinh tế mở cửa trở lại sau đại dịch Covid-19. Bên cạnh đó là sự can thiệp được cho là quá đà. Giới chức ngân hàng trung ương bị cáo buộc đã sử dụng quyền tự chủ cao độ của mình để định hình các phương pháp tiếp cận quốc gia đối với các vấn đề vốn thuộc thẩm quyền của Quốc hội và chính phủ như môi trường, công bằng xã hội và chính trị.
Các chính trị gia có thể khẳng định rằng họ ủng hộ tính độc lập của ngân hàng trung ương, nhưng giờ đây lại muốn cắt giảm những gì các nhà hoạch định chính sách có thể làm, cách thức họ thực hiện và thời điểm họ triển khai. Dù vậy, lý do để bảo vệ sự tự do trong việc thực thi chính sách chưa bao giờ mạnh mẽ đến thế. Khả năng hành động quyết đoán của các ngân hàng trung ương khi các cơ quan khác của nhà nước tỏ ra yếu kém là yếu tố cốt lõi để định hình một thế kỷ đang bị tác động bởi các chính trị gia dân túy, những người quyết tâm kiềm chế bất kỳ quyền lực nào nằm ngoài tầm kiểm soát của họ.
Tổng thống Mỹ Donald Trump muốn có tiếng nói đối với chính sách tiền tệ. Andy Burnham, tân thủ tướng Anh, khi còn là thị trưởng Manchester từng tuyên bố rằng quốc gia này đang bị phụ thuộc vào thị trường trái phiếu, sự chỉ trích ngầm dành cho ngân hàng Trung ương Anh (BOE). (Burnham từ đó đã cố gắng đưa ra những tuyên bố thân thiện hơn với thị trường.) Trong khi đó, khối chống thiết chế đang lên của Nigel Farage cũng đang nhắm vào BOE. Những người hoài nghi châu Âu bất bình trước phạm vi ảnh hưởng sâu rộng của ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB); các ứng cử viên cánh hữu, những người đang lên điểm trong các cuộc thăm dò ý kiến, muốn chính sách phải phản ánh các ưu tiên nội địa thay vì nhu cầu của toàn khu vực. Ngay cả các nhà lãnh đạo truyền thống cũng tìm cách hạn chế quyền lực của các ngân hàng trung ương độc lập. New Zealand đã bác bỏ các yêu cầu cấp vốn từ ngân hàng Trung ương nước này và tước bỏ một số trách nhiệm của cơ quan này.
Đây là biểu hiện tồi tệ nhất của chủ nghĩa cơ hội. Nếu các ngân hàng trung ương phải lệ thuộc vào các mệnh lệnh chính trị, kỳ vọng lạm phát nhiều khả năng sẽ mất đi điểm tựa, lãi suất dễ bị biến động mạnh hơn và niềm tin của nhà đầu tư sẽ trở nên mong mong hơn. Lịch sử đã cho thấy bài học về những gì xảy ra khi thiếu đi tính độc lập. Vào những năm 1970, thời kỳ đặc trưng bởi tình trạng suy thoái kéo dài liên tục và lạm phát tăng vọt, các vị tiền nhiệm của Volcker đã coi những vấn đề này là không thể giải quyết. Tại Anh, lãi suất đã tăng và giảm đột ngột đôi khi chỉ trong vòng 24 giờ trước khi chính phủ Whitehall cuối cùng phải giao lại quyền kiểm soát cho BOE.
Các ngân hàng trung ương không thể đứng ngoài trách nhiệm giải trình. Họ nhận nhiệm vụ từ Quốc hội; tính độc lập không phải là điều nghiễm nhiên, nó phải được gầy dựng. Để có thể tự do điều hành và thực hiện hiệu quả vai trò của mình mà điều quan trọng nhất là duy trì sự ổn định giá cả, công chúng cần phải hiểu, tin tưởng và ủng hộ các quyết định của họ. Trên thực tế, điều này có nghĩa là phải chấp nhận các đợt đánh giá định kỳ, một điều mà giới quan chức thường công khai hoan nghênh nhưng lại thầm lo lắng. Cuộc điều tra về khả năng dự báo của BOE do cựu chủ tịch Fed Ben Bernanke tiến hành vào năm 2024 là một ví dụ điển hình. Cuộc điều tra đã hé lộ những thiếu sót trong các dự báo và hoạt động truyền thông của ngân hàng, những lỗ hổng mà người đứng đầu cơ quan này đã cam kết sẽ khắc phục. Một báo cáo mang tính bước ngoặt vào năm 2023 về ngân hàng Trung ương Australia (RBA) cho thấy tổ chức này quá khép kín và kết luận rằng họ có thể làm tốt hơn nhiều trong việc truyền tải phương pháp tiếp cận của mình tới công chúng. Nhiệm kỳ của ngân hàng Trung ương Canada được gia hạn 5 năm một lần, với đợt đánh giá mới nhất sẽ hoàn tất trong những tháng tới.
Sẵn sàng đón nhận những đánh giá như vậy nhưng vẫn giữ nguyên các trách nhiệm cốt lõi chính là chìa khóa cho sự bền vững và tính độc lập trong thế kỷ 21. Nếu một hệ thống tiền tệ được thiết kế lại từ đầu, nó sẽ mang nhiều đặc tính của các ngân hàng trung ương tốt nhất: Mức độ tự chủ cao trong việc thực hiện các mục tiêu do cơ quan lập pháp giao cho, hay còn gọi là sự tự chủ vận hành; các mục tiêu rõ ràng được điều chỉnh thường xuyên, và một đòn bẩy quyền lực khẩn cấp cho phép họ hành động vượt ra ngoài phạm vi nhiệm vụ trong các cuộc khủng hoảng, thời điểm có thể gọi đó là kinh tế thời chiến.
Cần phải có sự đồng thuận trong hệ thống chính trị và tài chính về chính xác vai trò của họ là gì, ranh giới của phạm vi đó ở đâu, và khi nào các giới hạn đó có thể được gạt sang một bên trong thời điểm khẩn cấp. Chủ tịch ECB Christine Lagarde đã phát biểu trong một bài diễn văn vào ngày 28.5: “Trong một thế giới mà các điều kiện ngày càng trở nên khó khăn hơn, thách thức không còn đơn thuần là duy trì tính độc lập về mặt pháp lý, mà trên hết là duy trì uy tín cần thiết để thực thi tính độc lập đó.”
Hơn bao giờ hết, các nền kinh tế đòi hỏi uy tín của nhà quản lý ngân hàng trung ương. Các cú sốc lạm phát có thể xuất hiện thường xuyên hơn, và các nhà đầu tư ngày càng lo ngại rằng các nhà lập pháp không có chiến lược để đưa mức thâm hụt ngân sách đang phình to vào một lộ trình bền vững. Mối lo ngại là các ngân hàng trung ương có thể bị chỉ thị phải hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động vay nợ của chính phủ, một phương pháp được gọi là tiền tệ hóa nợ và thường bị phản đối nếu không phải trong tình trạng khẩn cấp. Chúng ta đã thấy những tín hiệu của sự lo lắng đó trên thị trường trái phiếu toàn cầu, nơi lợi suất đã tăng vọt lên mức cao nhất trong nhiều năm. Đợt tăng này đã đẩy chi phí vay của các chính phủ, doanh nghiệp và người tiêu dùng lên cao.

Cho đến khi tính độc lập trở nên phổ biến vào những năm 1990, nhiều nền kinh tế đã chịu sự điều hành của các chính phủ và rơi vào các thời kỳ tăng trưởng nóng xen kẽ với những đợt suy thoái đau đớn. Việc nhượng lại một phần quyền lực cho các ngân hàng trung ương không nhằm mục đích xóa bỏ những biến động đó, mà là để làm dịu chúng và xử lý hậu quả khi sự cố xảy ra. Đối với Andy Haldane, cựu kinh tế trưởng của BOE, thời kỳ hoàng kim chính là những năm giữa chiến thắng của Volcker và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, cột mốc đánh dấu một sự đứt gãy căn bản. Ông chia sẻ với tôi: “Niềm tin của giới chính trị và công chúng đã bị bào mòn.”
Cuộc khủng hoảng và đại dịch đã làm mờ ranh giới giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, khi các ngân hàng trung ương mua vào lượng lớn trái phiếu chính phủ. Những can thiệp quyết liệt đó, dù là hợp lý trước nguy cơ sụp đổ của nền kinh tế thế giới, đã đưa các nhà hoạch định chính sách vào những lĩnh vực kinh doanh và tài chính mà trước đây họ từng e ngại không dám bước vào. Tính đến cuối năm 2021, Fed, ECB, BOE và ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã mua tổng cộng 57 ngàn tỉ USD tài sản, phần lớn là nợ công. Trong thập kỷ trước khi Lehman Brothers Holdings phá sản vào năm 2008, con số này chỉ khoảng 10 ngàn tỉ USD. Mục đích là để làm bệ đỡ cho hệ thống tài chính của các nền kinh tế quan trọng nhất thế giới bằng cách bơm tiền mặt và kéo lãi suất dài hạn xuống thấp khi lãi suất ngắn hạn chính thức đã tiệm cận mức 0. Nhưng rốt cuộc, điều đó đã cuốn họ vào chính sách tài khóa và khiến việc rút lại các gói kích thích trở nên khó khăn hơn.
Volcker hiểu rất rõ rằng ông có thể bị Quốc hội và Nhà Trắng làm suy yếu quyền lực nếu họ trở nên quá bất mãn. Trong một cuộc phỏng vấn cho cuốn sách The Great Inflation and Its Aftermath của Robert J. Samuelson, ông nói rằng Fed “được thiết kế để độc lập với các lợi ích chính trị cục bộ. Nhưng... bạn không thể cứ làm điều gì đó nằm ngoài tầm hiểu biết của công chúng, bởi vì bạn sẽ không thể giữ được sự độc lập lâu nếu làm như vậy.”
Đúng như dự đoán, bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Scott Bessent đã tranh luận rằng Fed đã vượt quá phạm vi nhiệm vụ của mình khi đảm nhận quá nhiều việc, tự tin thái quá vào các mô hình của mình và trở thành một bộ máy hành chính cồng kềnh. Tân chủ tịch Fed Kevin Warsh cũng đồng tình với quan điểm của Bessent, nói thêm rằng ngân hàng trung ương đã đi lệch khỏi vai trò cốt lõi là kiểm soát lạm phát, sa đà một cách thiếu khôn ngoan vào các hoạt động chính trị, và thiệp sâu vào việc giải quyết bất bình đẳng cũng như biến đổi khí hậu.
Những tuyên bố như vậy, dù chứa đựng một phần sự thật, cũng mang tính phục vụ lợi ích cá nhân. Các cơ quan tiền tệ đã được các nhánh khác của chính phủ khuyến khích can thiệp vào các lĩnh vực cấm khi cần đến các bước đi chưa từng có tiền lệ. Rất nhiều khi, sự chỉ trích lại mang nặng tính tư tưởng hoặc chỉ đơn thuần là các nỗ lực ám ảnh nhằm xem xét lại các quyết định mà các nhà lập pháp không đồng tình. Điều đó lại khiến những người bảo vệ thực trạng thu mình cố thủ. Một vòng xoáy độc hại hình thành. Rủi ro của ván cờ này là quá lớn.
Trong suốt lịch sử, khi không bị cản trở một cách bất hợp lý, các ngân hàng trung ương đã phục vụ lợi ích quốc gia theo những cách sáng tạo. BOE đã tài trợ cho các cuộc chiến chống lại Pháp, và các nhà cho vay ở Amsterdam đã giữ cho dòng tiền tiếp tục chảy vào công ty Đông Ấn Hà Lan. Họ từng sở hữu trang trại gia súc, hãng hàng không và trở thành những nhân tố ngoại giao. Họ thậm chí còn cử đặc phái viên xuống địa bàn để giám sát giá ớt ở Indonesia.
Định giá tiền tệ là một trong những chức năng thiết yếu nhất của bất kỳ quốc gia nào. Nhưng đó sẽ không phải là tất cả những gì các ngân hàng trung ương cần phải hoàn thành. Nền kinh tế thế giới phải đối mặt với những thách thức khổng lồ trong thế kỷ 21. Các nhà hoạch định chính sách cần những nhiệm vụ rõ ràng, được công chúng chuẩn thuận, để vận hành một cách nhanh nhạy và đôi khi là quyết liệt. Họ cần truyền thông rõ ràng và hợp tác khi phù hợp, đồng thời không phải lo sợ bị chỉ trích bất công khi sai sót xảy ra. Họ đã được các đại diện của nhân dân thuê để làm một công việc. Hãy để họ tiếp tục thực hiện công việc đó.
Theo Bloomberg
Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn
https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/mot-ngan-hang-trung-uong-trong-the-ky-21-nen-co-hinh-mau-nhu-the-nao-59654.html
Tặng bài viết
Đối với thành viên đã trả phí, bạn có 5 bài viết mỗi tháng để gửi tặng. Người nhận quà tặng có thể đọc bài viết đầy đủ miễn phí và không cần đăng ký gói sản phẩm.
Bạn còn 5 bài viết có thể tặng
Liên kết quà tặng có giá trị trong vòng 7 ngày.
BÀI LIÊN QUAN
Mới nhất
Videos mới nhất