Ai được, ai mất sau cuộc chiến tại Iran?

BBWV - Cuộc xung đột với Iran đang làm đảo chiều cán cân quyền lực khi các đối thủ của Mỹ hưởng lợi, còn đồng minh thì lại bị thiệt hại.

Tác giả: Andreas Kluth

15 tháng 04, 2026 lúc 11:53 AM

Tóm tắt bài viết bởi

logo
  • Sau đàm phán thất bại tại Islamabad, xung đột Mỹ-Iran có nguy cơ bùng nổ, gây ra thảm họa nhân đạo, kinh tế và địa chính trị, ảnh hưởng đến cán cân quyền lực toàn cầu.
  • Iran tuy chịu thiệt hại nặng nề nhưng vẫn duy trì kiểm soát và đưa ra yêu sách về eo biển Hormuz, đồng thời được nới lỏng trừng phạt từ chính quyền Trump.
  • Nga hưởng lợi từ giá dầu khí tăng do xung đột, giúp phục hồi nguồn thu và chứng kiến sự rạn nứt trong NATO do thái độ của Tổng thống Trump.
  • Trung Quốc có thể là bên hưởng lợi nhiều nhất khi Mỹ tiêu hao nguồn lực ở Trung Đông, củng cố vị thế của Bắc Kinh trước thềm hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Trung vào tháng 5.
  • Các đồng minh của Mỹ như các quốc gia quân chủ vùng Vịnh và các nước NATO ở châu Âu rơi vào trạng thái bất ổn, trong khi Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu có vai trò lớn trong việc thúc đẩy chiến tranh.

Cuộc chiến với Iran nhiều khả năng sẽ bùng phát trở lại sau khi các cuộc đàm phán tại Islamabad giữa Washington và Tehran đổ vỡ. Đây đã trở thành một thảm họa về nhân đạo, kinh tế và địa chính trị. Một cách để hình dung quy mô của thất bại chiến lược này là nhìn vào các đồng minh và đối thủ của Mỹ trên toàn cầu, rồi tự hỏi: Ai được lợi, ai chịu thiệt.

Câu trả lời khiến người ta bất an. Những bên hưởng lợi chủ yếu lại là đối thủ của Mỹ, trong khi các đồng minh truyền thống ở châu Âu, châu Á và vùng Vịnh lại chịu tổn thất. Israel là một trường hợp đặc biệt.

Ở phía đối thủ, chính quyền Iran rõ ràng đã bị tổn thất nặng nề. Nhưng họ vẫn trụ vững trước sức ép của một siêu cường và tiếp tục duy trì quyền kiểm soát. Thậm chí, Iran còn bất ngờ đưa ra yêu sách mới về quyền kiểm soát eo biển Hormuz, tuyến hàng hải trước đây vẫn thông suốt cho đến cuối tháng 2, nhưng nay Mỹ dự định kiểm soát bằng một hình thức phong tỏa có chọn lọc.

Nghịch lý là, ngay giữa lúc chiến sự leo thang, Iran lại được nới lỏng lệnh trừng phạt từ chính quyền Trump, điều mà trước đó họ chưa từng đạt được. Về lâu dài, Iran có thể vẫn đạt được một thỏa thuận trao đổi việc giám sát uranium làm giàu để đổi lấy việc dỡ bỏ trừng phạt lâu dài. Thực tế, họ đã theo đuổi hướng đi này ngay từ trước khi chiến tranh nổ ra, thậm chí từng đạt được một thỏa thuận tương tự vào năm 2015, trước khi Donald Trump rút khỏi trong nhiệm kỳ đầu. Tổng thể, Iran mất nhiều nhưng cũng có thể đã thu lại nhiều hơn.

Nga là bên hưởng lợi rõ rệt hơn. Trước cuối tháng 2, nền kinh tế nước này đang chịu sức ép có thể buộc họ phải tính đến một lối thoát nào đó cho cuộc chiến tại Ukraine. Nhưng giá dầu và khí đốt tăng vọt do xung đột đã giúp Moscow phục hồi nguồn thu. Giống như Iran, Nga còn được hưởng lợi từ việc Mỹ bất ngờ nới lỏng một số biện pháp trừng phạt. Quan trọng hơn, Điện Kremlin chứng kiến sự tức giận ngày càng tăng của ông Trump đối với NATO, và có cơ sở để kỳ vọng liên minh phương Tây, vốn được lập ra chủ yếu để kiềm chế Nga, đang rạn nứt.

Triều Tiên, dù khá kiềm chế trong việc chỉ trích Mỹ, chắc chắn đang theo dõi tình hình với sự hài lòng. Nước này duy trì mối quan hệ với Nga và Trung Quốc, đồng thời mở rộng kho vũ khí hạt nhân nhằm vào Hàn Quốc, Nhật Bản và có thể là cả Mỹ. Từ cuối tháng 2, họ còn chứng kiến Mỹ điều chuyển đạn dược và trang thiết bị từ Hàn Quốc và Nhật Bản sang Trung Đông, hoàn toàn đi ngược lại định hướng chiến lược được công bố hồi đầu năm.

Trung Quốc có lẽ là bên được lợi nhiều nhất. Chiến lược quốc phòng của Mỹ từng nhấn mạnh việc tập trung lực lượng tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương để bảo vệ chuỗi đảo tiền tiêu trong kịch bản xung đột liên quan đến Đài Loan hoặc Biển Đông. Nhưng trên thực tế, Mỹ lại đang tiêu hao nguồn lực và kho dự trữ tại Trung Đông.

Trước đó, Bắc Kinh đã đối đầu với các biện pháp thuế quan của ông Trump mà không nhượng bộ. Từ góc nhìn của Trung Quốc, cuộc chiến với Iran có thể củng cố nhận định rằng Mỹ chỉ có thể tạo ra cú sốc quân sự trong thời gian ngắn nhưng khó duy trì sức ép lâu dài. Hội nghị thượng đỉnh giữa ông Trump và Tập Cận Bình đã bị lùi sang tháng 5, và giờ đây Trung Quốc bước vào cuộc gặp với vị thế vững vàng hơn.

Ở chiều ngược lại là các đồng minh của Mỹ. Cho đến gần đây, các quốc gia quân chủ vùng Vịnh tin rằng họ đang đảm bảo an ninh bằng cách cho Mỹ đặt căn cứ quân sự và duy trì quan hệ kinh tế rộng rãi với gia đình Trump. Nhưng với quyết định phát động chiến tranh, Trump đã khiến họ trở thành mục tiêu trực tiếp của các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái. Tương lai của họ như những trung tâm quốc tế về hàng không, kinh doanh và giải trí trở nên bấp bênh, thậm chí có thể buộc phải tìm đến Trung Quốc như một đối tác thay thế.

Các đồng minh NATO tại châu Âu cũng rơi vào trạng thái bất ổn. Trump từ lâu đã coi thường họ, từng nhiều lần úp mở ý định rút khỏi liên minh, và gần đây lại nhắc lại điều này trong cuộc gặp với Tổng thư ký Mark Rutte. Mỹ cũng có thể gây sức ép bằng cách rút bớt quân đồn trú. Đồng thời, Trump tiếp tục đưa ra những phát ngôn đe dọa liên quan đến Greenland, vùng lãnh thổ thuộc Đan Mạch, một đồng minh NATO.

Trong vấn đề Iran, Trump cũng không có nhiều cơ sở để chỉ trích NATO. Ông không hề thông báo trước cho các đồng minh về chiến dịch, rồi lại chuyển từ việc khẳng định Mỹ không cần hỗ trợ sang phàn nàn vì không nhận được sự giúp đỡ. Thực tế, NATO là một liên minh phòng thủ, không được thiết kế để tham gia các cuộc chiến do lựa chọn mà nhằm răn đe và phản ứng khi một thành viên bị tấn công. Điều khoản phòng thủ tập thể mới chỉ được kích hoạt một lần, sau vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 nhằm vào Mỹ.

Phản ứng của châu Âu cũng không đồng đều. Tây Ban Nha, ở xa Nga, đã từ chối cho Mỹ sử dụng căn cứ để phục vụ chiến dịch tại Iran. Trong khi đó, tại Pháp, Đức và nhiều nước khác, ngày càng nhiều người tin rằngf Mỹ không còn là một đồng minh đáng tin cậy, thậm chí có thể trở thành đối thủ.

Ở châu Á, Trump cũng thể hiện thái độ tương tự với các đồng minh hiệp ước. Khi tiếp Thủ tướng Nhật Bản, ông giải thích việc không thông báo trước về chiến dịch bằng lý do cần yếu tố bất ngờ, thậm chí còn nhắc lại câu chuyện Trân Châu Cảng theo cách khiến phía Nhật Bản lúng túng.

Israel là đồng minh duy nhất có vai trò được nâng lên trong cuộc chiến này, nhưng điều đó chưa chắc đã là tích cực. Nhiều thông tin cho thấy Thủ tướng Benjamin Netanyahu đóng vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy chiến tranh, thậm chí trực tiếp trình bày tại Nhà Trắng và gây ảnh hưởng đáng kể đến quyết định của tổng thống, dù một số đánh giá trong nội bộ Mỹ cho rằng lập luận của ông có phần thiếu thuyết phục.

Hệ quả là ranh giới giữa việc Mỹ dẫn dắt hay bị kéo theo trong cuộc chiến trở nên mờ nhạt. Đây là một trong những chỉ trích nặng nề nhất đối với vai trò của tổng thống Mỹ. Về nguyên tắc, các liên minh nên được sử dụng để ngăn ngừa chiến tranh và tăng sức mạnh khi chiến tranh xảy ra. Ngược lại, cách tiếp cận sai lầm là khuyến khích các đối tác nhỏ chấp nhận rủi ro quá mức, kéo Mỹ vào những cuộc chiến không phục vụ lợi ích của mình.

Một số nhà sử học đã bắt đầu gọi cuộc chiến Iran năm 2026 là “khoảnh khắc Suez” của Mỹ, gợi lại cuộc khủng hoảng năm 1956 từng đánh dấu bước ngoặt suy tàn của Anh và Pháp trên trường quốc tế.

Lần này, chính sức mạnh của Mỹ bị phơi bày là có giới hạn và đang suy giảm. Điều này có thể thúc đẩy các đồng minh tìm kiếm những đảm bảo an ninh ở nơi khác, trong khi các đối thủ sẽ tính toán lại thời điểm thích hợp để thách thức Washington một cách trực diện.

Theo Bloomberg

Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn

https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/ai-duoc-ai-mat-sau-cuoc-chien-tai-iran-57259.html

#Iran
#Mỹ
#Xung đột Trung Đông
#Trung Quốc
#Nga
#địa chính trị
#Eo biển Hormuz