Thiếu điện, Việt Nam không thể vượt Trung Quốc

BBWV - Việt Nam là điểm đến hàng đầu để thay thế chuỗi cung ứng Trung Quốc, nhưng nguy cơ thiếu điện và các dự án năng lượng tái tạo bị treo đang đe dọa tham vọng đó.

Dự án điện gió, điện năng lượng mặt trời tại xã Bắc Phong, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận. Hình ảnh: Trần Việt - TTXVN

Dự án điện gió, điện năng lượng mặt trời tại xã Bắc Phong, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận. Hình ảnh: Trần Việt - TTXVN

Tác giả: David Fickling*

25 tháng 09, 2026 lúc 9:00 AM

Tóm tắt bài viết bởi

logo
  • Việt Nam là quốc gia hưởng lợi lớn từ xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng khỏi Trung Quốc với mức tăng trưởng kinh tế đạt 8% trong năm ngoái.
  • Nhu cầu phụ tải lưới điện của Việt Nam tăng khoảng 10% mỗi năm, nhưng nguy cơ thiếu điện diện rộng đang đe dọa nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất.
  • Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) ghi nhận 85 dự án điện gió và điện mặt trời với tổng công suất 4,7 GW đang bị vướng mắc pháp lý.
  • Việt Nam cần 136 tỷ USD để mở rộng lưới điện, nhưng chương trình JETP mới chỉ giải ngân được khoảng 7% trong số 11 tỷ USD cần thiết.
  • Theo ông David Fickling, Việt Nam cần nhanh chóng giải quyết bất đồng về giá với EVN để thu hút vốn tư nhân và lắp đặt 150 GW đến năm 2030.

Nỗ lực của thế giới nhằm giảm sự phụ thuộc vào gã khổng lồ sản xuất Trung Quốc phụ thuộc phần lớn vào một quốc gia duy nhất: Việt Nam. Tuy nhiên, khả năng đáp ứng kỳ vọng đó của quốc gia này lại có thể phụ thuộc vào số phận của một vài trang trại điện gió đang phải "đắp chiếu". Trong bối cảnh chi phí năng lượng tăng vọt, chính phủ đang cảnh báo nguy cơ mất điện diện rộng có thể xảy ra ngay trong năm tới. Giải pháp khắc phục là điều đã quá trễ.

Việt Nam có thể đang là nạn nhân từ chính sự thành công của mình. Hơn bất kỳ quốc gia nào khác, Việt Nam là bên hưởng lợi lớn nhất từ các sắc thuế quan và chính sách đa dạng hóa hóa chuỗi cung ứng vốn nhằm kiềm chế thương mại của Trung Quốc kể từ chính quyền nhiệm kỳ đầu của ông Trump. Ngành chế biến - chế tạo của Việt Nam nằm trong nhóm phát triển nhanh nhất hành tinh. Kim ngạch xuất khẩu tương đương gần như toàn bộ tổng sản phẩm quốc nội (GDP), và nền kinh tế đã tăng trưởng 8% trong năm ngoái.

Để duy trì guồng máy công nghiệp đó, Việt Nam cần một lượng điện năng khổng lồ. Và đây chính là nơi phát sinh vấn đề. Nhu cầu phụ tải lưới điện đang tăng khoảng 10% mỗi năm, nhưng đà tăng của nguồn cung đã chững lại sau khi đợt bùng nổ năng lượng tái tạo vượt tầm kiểm soát vào khoảng thời gian diễn ra đại dịch Covid-19. Cuộc chiến tại Iran đã khiến tình hình trở nên tồi tệ hơn: Khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG), vốn từng được coi là xương sống cho lưới điện tương lai của Việt Nam, không còn là nguồn nhiên liệu giá rẻ hay đáng tin cậy như từng được kỳ vọng. Ngay cả than đá cũng đang được cân nhắc như một giải pháp để giải tỏa tình trạng thiếu hụt mãn tính.

Các nguon phat dien
Tuy nhiên, chỉ có một giải pháp duy nhất đủ tầm vóc để giải quyết quy mô của vấn đề này, và đó lại là giải pháp mà Việt Nam vẫn luôn né tránh: Chấm dứt những bất đồng về giá với tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), doanh nghiệp nhà nước đã khiến hàng gigawatt (GW) năng lượng sạch phải ngắt kết nối trong phần lớn 5 năm qua.

Điều này tưởng chừng như vô lý tại một quốc gia mà các đợt mất điện vào năm 2023 từng khiến nhiều nhà máy phải đóng cửa và làm bốc hơi 0,3% GDP, nhưng Việt Nam lại đang sở hữu một lượng đáng kể các dự án năng lượng tái tạo đã cơ bản hoàn thành nhưng rơi vào bế tắc. Hai trang trại điện gió nằm giữa những điền trang trà và cà phê ở Tây Nguyên là minh chứng điển hình: Theo kế hoạch ban đầu dự kiến hoàn thành vào năm 2021, chúng đã phải "phủ bụi" trong rào cản pháp lý suốt nhiều năm trước khi nhận được giấy phép hoạt động vào tháng 1, cho phép các dự án này chính thức đi vào vận hành.

Đó không phải là những trường hợp duy nhất. Cơ sở dữ liệu của EVN liệt kê 85 dự án điện gió và điện mặt trời với tổng công suất 4,7 GW rơi vào tình trạng vướng mắc tương tự, và hiện chỉ có 1,6 GW đang phát điện. Phần còn lại, về lý thuyết, sẽ đủ cung cấp điện cho hàng triệu hộ gia đình. Không phải tất cả trong số đó đều đã hoàn thành, nhưng ít nhất 0,5 GW trong tổng số này dường như đã được kiểm thử và sẵn sàng đóng điện lên lưới.

Sự tồn đọng này không hoàn toàn là lỗi của EVN. Được thúc đẩy bởi mức doanh thu đảm bảo quá hậu hĩnh, đợt bùng nổ năng lượng tái tạo của Việt Nam giai đoạn 2019 - 2021 mang dáng dấp của một cuộc "săn vàng" đúng nghĩa. Các nhà phát triển đã đua nhau xí phần hợp đồng, đi tắt đón đầu và để lại các vấn đề về thủ tục, quyền sử dụng đất cùng việc đấu nối lưới điện xử lý sau. Những tranh chấp về giá kéo dài từ đó đến nay đại diện cho nỗ lực của tập đoàn điện lực nhằm hợp quy chuẩn hóa hệ quả hỗn loạn sau đó, mà không phải trả mức giá quá cao cho nguồn điện hiện có thể mua rẻ hơn.

Tuy nhiên, khi đặt trong bối cảnh nhu cầu năng lượng đang tăng vọt của Việt Nam, việc tính toán chi ly này lại là kiểu "khôn nhà dại chợ." Khi cố gắng thay đổi các hợp đồng đã thỏa thuận với các nhà phát điện, chính phủ đã vô tình biến quốc gia này thành một điểm đến rủi ro trong mắt các nhà quản lý vốn tư nhân.

Hà Nội muốn mở rộng quy mô lưới điện lên gấp khoảng ba lần trong 5 năm tới và sẽ cần 136 tỉ USD để chi trả cho mục tiêu đó, vượt xa khả năng tự cân đối của nhà nước. Năng lượng tái tạo là nguồn năng lượng duy nhất có khả năng xây dựng theo tốc độ yêu cầu, nhưng số phận của JETP (Khuôn khổ đối tác Dịch chuyển Năng lượng công bằng do Liên hợp quốc làm trung gian) tại Việt Nam cho thấy các dự án này phụ thuộc vào vốn tư nhân đến mức nào. Sau 4 năm, chỉ có 3 trong số 50 dự án theo kế hoạch nhận được vốn đầu tư, đại diện cho khoảng 7% trong số 11 tỉ USD cần thiết.

EVN hoàn toàn có thể nới tay hơn. Tập đoàn hiện đã xóa được khoản lỗ lũy kế sau nhiều năm đầy biến động. Việc chấp nhận trả cao hơn 10% so với mức thông thường cho 1 GW từ các dự án cũ vẫn sẽ là một thương vụ hời, nếu việc khôi phục niềm tin của nhà đầu tư giúp giảm dù chỉ vài điểm cơ bản trong chi phí huy động vốn cho khoảng 150 GW bổ sung mà Hà Nội muốn lắp đặt đến năm 2030. Một giải pháp nhanh chóng nhưng quyết đoán để kết nối các dự án khả thi nhất, đồng thời tránh ưu ái cho những bên vi phạm quy định rõ ràng. Làm như vậy sẽ tốt hơn nhiều so với việc để tình trạng lấp lửng hiện tại tiếp tục kéo dài.

Điều đó không có nghĩa với việc Việt Nam trong mắt các nhà phát triển là bên dễ bị bắt chẹt. Thỏa thuận cho thế hệ dự án tiếp theo nên đi theo hướng ngược lại: Hà Nội sẽ không viết lại hợp đồng sau khi nhà đầu tư đã giải ngân, và các nhà phát triển không thể kỳ vọng hạn chót hay giấy phép là những điều khoản có thể thương lượng.

Trong bối cảnh chính phủ đang nỗ lực hoàn tất thỏa thuận thương mại với chính quyền của ông Trump, Việt Nam đang ở vị thế thuận lợi để trở thành một trong những bên hưởng lợi lớn nhất khi thế giới chuyển dịch sản xuất khỏi Trung Quốc. Tuy nhiên, nếu không thể tạo ra lượng điện năng cần thiết để vận hành các dây chuyền sản xuất, các tập đoàn đa quốc gia nhiều khả năng sẽ đi đến kết luận rằng các quốc gia khác, hoặc thậm chí chính Trung Quốc, mới là những lựa chọn đặt cược an toàn hơn.

Đợt bùng nổ năng lượng tái tạo đầu tiên đầy hỗn loạn của Việt Nam đã chứng minh quốc gia này có thể tăng sản lượng điện với tốc độ nhanh chóng. Nhưng khoảng thời gian trầm lắng kéo dài sau đó lại cho thấy Việt Nam sẽ cần phải thu hút vốn tư nhân quay trở lại nếu muốn lặp lại kỳ tích đó một lần nữa.

David Fickling là cây bút thuộc chuyên mục Bloomberg Opinion chuyên trách về biến đổi khí hậu và năng lượng. Trước đây, ông từng làm việc tại Bloomberg News, Wall Street Journal và Financial Times.

Theo Bloomberg

Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn

https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/viet-nam-khong-the-vuot-trung-quoc-neu-thieu-dien-60529.html

#Việt Nam
#lưới điện
#thiếu điện
#Trung Quốc
#chuỗi cung ứng
#sản xuất
#điện gió
#điện mặt trời
#năng lượng tái tạo
#EVN

Mới nhất

Videos mới nhất