Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Chuyên mục
Media
Báo cáo đặc biệt
Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Khám phá nhiều hơn với tài khoản
Đăng nhập để lưu trữ và dễ dàng truy cập những bài viết bạn yêu thích trên Bloomberg Businessweek Việt Nam.
BBWV - Từ trái phiếu chính phủ đến hệ thống ngân hàng hiện đại, nợ là một trong những sáng tạo tao nhã và bị hiểu lầm nhất của nhân loại.
Mark Pernice minh họa cho Bloomberg
Tác giả: Felix Salmon
01 tháng 08, 2026 lúc 10:00 AM
Tóm tắt bài viết bởi
Trong lịch sử các thị trường vốn, một số ít trái phiếu chính phủ nổi bật vì có sức biến đổi đặc biệt. Có những trái phiếu "renten" của Hà Lan vào đầu những năm 1600, loại trái phiếu vĩnh viễn đã củng cố ý tưởng rằng một lời hứa của Hà Lan có thể tồn tại lâu hơn bất kỳ vị vua hay hoàng đế nào; trái phiếu "consol" của Anh năm 1751, loại trái phiếu tiêu biểu cho khả năng chiến thắng các cuộc chiến của Anh bằng cách vay mượn và chi tiêu nhiều hơn đối thủ; và trái phiếu Tự do (Liberty Loan) của Mỹ năm 1917, đánh dấu sự khởi đầu của thị trường trái phiếu kho bạc ngày nay, nền tảng của tài chính toàn cầu. Tất cả chúng đều là những công cụ tao nhã, thu hút trí tưởng tượng của các chủ ngân hàng, người tiết kiệm và các chính khách. Chúng sở hữu vẻ đẹp khái niệm của một phép chứng minh toán học, thứ mà một khi bạn đã thấy, nó có vẻ như là điều tất yếu, như thể được khám phá ra chứ không phải được phát minh.
Rồi đến trái phiếu C-bond của Brazil năm 1994. Là một phần của kế hoạch Brady nhằm biến các khoản vay ngân hàng vỡ nợ thành trái phiếu chính phủ, nó ngay lập tức trở thành chứng khoán có tính thanh khoản cao nhất tại các thị trường mới nổi, một chỉ báo mà lợi suất của nó được xem như thước đo sức khỏe của cả một loại tài sản. Nó cũng cực kỳ xấu xí: Trong khi các trái phiếu chính phủ trước đó có vẻ đẹp của sự đơn giản, C-bond lại là một mớ hỗn độn do một ủy ban thiết kế. Nếu trái phiếu consol là một chiếc ô được chế tạo tốt, thì C-bond là một tấm bạt được giữ bằng dây nylon và băng keo.
Công cụ của Brazil xấu xí như thế nào? Để tôi kể ra những điểm của nó. Nó có một coupon được trả một phần bằng tiền mặt và một phần bằng hiện vật. Nó có một quỹ tích lũy trả nợ (sinking fund) buộc Brazil phải mua lại trái phiếu theo mệnh giá ngay cả khi chúng đang giao dịch thấp hơn nhiều mức đó. Nó cũng có một quyền chọn mua đính kèm làm giới hạn đáng kể tiềm năng tăng giá cho nhà đầu tư và do đó làm giảm số tiền họ sẵn sàng trả. Ngay cả cái tên của nó cũng khó hiểu. Vào cuối những năm 1990, tôi đã dành hai năm để báo cáo hàng ngày về giao dịch của C-bond, và tôi liên tục quên chữ C là viết tắt của từ gì. Tôi chắc chắn chưa bao giờ hiểu đầy đủ cách cấu trúc của trái phiếu này. Lợi suất và chênh lệch của nó có thể dễ dàng truy cập trên bất kỳ thiết bị Bloomberg Terminal nào, nhưng chúng không hoạt động theo một cách trực quan. Điều đó có nghĩa là thiết kế quá phức tạp một cách lố bịch của trái phiếu đã biến nó thành một đối tượng gây khó chịu và thậm chí là chế giễu.
Ngoài thiết kế của nó, với tư cách là một trái phiếu Brady, C-bond "mang một sự kỳ thị nhất định," như cựu quan chức ngân hàng trung ương Brazil Sergio Goldenstein trao đổi với Bloomberg vào năm 2005. Ý tưởng đằng sau trái phiếu Brady là chúng giống như con dốc dành cho trẻ em trong thị trường trái phiếu, được thiết kế cho các quốc gia không thể tự phát hành trái phiếu và do đó cần sự giúp đỡ của bộ Tài chính Mỹ.
Hơn hai thập kỷ sau khi vụ vỡ nợ của Brazil được giải quyết, C-bond hoạt động như một dấu ấn ô nhục trên thị trường vốn, một lời nhắc nhở hàng ngày về một kỷ nguyên mà các quan chức nước này muốn dứt khoát bỏ lại phía sau. Khi Brazil cuối cùng mua lại những trái phiếu C-bond cuối cùng và thay thế chúng bằng các chứng khoán đơn giản hơn nhiều, nước này đã thực sự tự chủ, thay vì phải lao động mỗi năm để trả một món nợ được đặt theo tên của một cựu bộ trưởng Tài chính Mỹ.
Hồi tháng Một, Matt Levine của Bloomberg Opinion đã viết về niềm tin của mình rằng "tài chính là một chủ đề phù hợp cho phê bình nghệ thuật." Ông ấy đã đúng về điều đó. Thực tế, nhiều chuyên gia tài chính kỳ cựu hiểu điều này một cách trực giác. Khi nói chuyện với các học sinh trung học vào năm 1986, vua trái phiếu rác Mike Milken đã nói thẳng rằng "tài chính là một loại hình nghệ thuật" và sau đó phàn nàn rằng đó là "một hình thức nghệ thuật bị hiểu lầm rất nhiều."
Điều đó một phần là do tài chính giống khoa học hơn là nghệ thuật. Trái phiếu C-bond của Brazil đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình và nó được cho nghỉ hưu chủ yếu vì lý do tài chính. Sự hài lòng về mặt thẩm mỹ khi cho nó nghỉ hưu là lợi ích bổ sung chứ không phải là động lực chính. Dù vậy, luật sư về nợ chính phủ Lee Buchheit nói, "soạn thảo các hợp đồng tao nhã cho các giao dịch phức tạp là một nghệ thuật. Một số người đơn giản là làm tốt hơn những người khác."

Buchheit, người đã dành cả sự nghiệp của mình để đại diện cho các bên vay chính phủ, đã nhiều năm chỉ trích các hợp đồng "khó hiểu, trùng lặp, dư thừa, vô tổ chức và cứng nhắc" là "tương đương với tội ác chống lại loài người." Ben Heller, nhà đầu tư trái phiếu tích cực, người thường ở phía bên kia bàn đàm phán với Buchheit, cũng sẽ đồng ý. "Có rất ít vẻ đẹp. Mọi thứ được thực hiện rất tệ và cẩu thả," ông phàn nàn.
Có lẽ họ chỉ đang tìm sai chỗ, trong ngôn ngữ của các hợp đồng trái phiếu mà hầu như không ai đọc. Nếu bạn nhìn rộng ra ở cấp độ của chính món nợ, bạn sẽ thấy rằng sự tồn tại của nó có một vẻ đẹp khái niệm đáng kinh ngạc. Cái nhìn sâu sắc quan trọng đến từ giáo sư Robert Townsend của viện Công nghệ Massachusetts (MIT), trong một bài báo kinh điển năm 1979 đã được gần 5.000 lần trích dẫn, nơi ông đặt ra cụm từ "xác minh trạng thái tốn kém" (costly state verification), ngày nay thường được gọi tắt là CSV.
Cái nhìn sâu sắc của Townsend là trong thế giới tài chính doanh nghiệp, những người nhận tiền, những người thực sự điều hành doanh nghiệp, có cái nhìn rõ ràng hơn nhiều về tình hình hoạt động của công ty so với những người cung cấp tiền. Nếu nhà tài trợ cung cấp vốn cổ phần, mua cổ phiếu của công ty, thì các nhà quản lý cần cung cấp một lượng lớn thông tin cho các nhà đầu tư. Cả một hệ thống báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, kế toán viên và kiểm toán viên bắt đầu xuất hiện, chỉ để cổ đông có thể yên tâm rằng lợi nhuận đúng như những gì nhà quản lý nói. Đó là CSV: Số tiền cần phải chi để xác minh công ty đang hoạt động tốt như thế nào.
Với nợ, và đặc biệt là với trái phiếu, phần lớn hệ thống đó không còn cần thiết. Bên vay thực hiện các khoản thanh toán lãi và thế là xong. Các khoản thanh toán đó không phụ thuộc vào lợi nhuận, và gần như luôn đến đầy đủ và đúng hạn. Vỡ nợ và phá sản luôn là một khả năng; và chúng có những cân nhắc thẩm mỹ riêng. Nhưng một chủ nợ chỉ quan tâm đến việc nhận các khoản coupon theo hợp đồng thường không cần thông tin về tình hình kinh doanh, và kết quả là bên vay và nhà đầu tư chỉ cần chi ít tiền hơn cho CSV. Ở một mức độ nào đó, đó là lý do tại sao lịch sử của nợ đã có từ hàng ngàn năm: Nó đơn giản và tao nhã ở một cấp độ rất sâu sắc và theo một cách không thể thực sự sao chép được. Điều đó không đẹp sao?
Câu hỏi "tiền thực sự là gì" cực kỳ khó trả lời, nhưng nếu chúng ta có thể đồng ý rằng nó bao gồm tiền gửi ngân hàng, thì bản thân tiền cũng là nợ, vì số dư ngân hàng chỉ là một khoản nợ mà ngân hàng nợ người gửi tiền, phải trả theo yêu cầu. ("Tiền gửi không phải là tài sản của ngân hàng, chúng là nợ phải trả" là một trong những ý tưởng vẫn cố chấp phản trực giác cho dù bạn gặp nó bao nhiêu lần đi nữa.)
Nợ, ăn sâu vào xã hội, rất phức tạp về mặt đạo đức. Trong một bài luận năm 1937 có tựa đề "Về sự phá sản," triết gia Simone Weil đã viết rằng "việc trả nợ là cần thiết cho trật tự xã hội. Việc không trả nợ cũng hoàn toàn cần thiết cho trật tự xã hội." Bà giải thích, bản chất của nợ bao gồm "những sự cần thiết mâu thuẫn," nợ vừa là cơ hội vừa là nghĩa vụ, một chiếc chìa khóa có thể mở ra con đường đến sự giàu có to lớn hoặc có thể, đôi khi theo đúng nghĩa đen, giam cầm. (Cha của Charles Dickens, một ví dụ đáng chú ý, đã bị nhốt trong nhà tù Marshalsea khét tiếng vì không trả nợ, một tình tiết sau này được tiểu thuyết hóa trong "Little Dorrit" và nhiều tiểu thuyết khác của Dickens.)
Tính đạo đức của nợ chưa bao giờ đặc biệt mạch lạc. "Trong phần lớn lịch sử nhân loại, hầu hết con người đã được cho biết rằng họ là những con nợ," nhà nhân chủng học David Graber kết luận trong cuốn sách năm 2011 có tên "Debt: The First 5.000 Years," (Tạm dịch: Lịch sử 5.000 năm của nợ) và nói thêm rằng "những tranh cãi về việc ai thực sự nợ ai cái gì đã định hình nên vốn từ vựng cơ bản của chúng ta về đúng và sai" trong gần như suốt thời gian đó. Một trong những khía cạnh lưỡng cực đặc trưng của nợ là trực giác của chúng ta có xu hướng dao động qua lại về việc nên đặt sự đồng cảm đạo đức của mình ở đâu. Ví dụ, phong trào Tea Party được thành lập dựa trên tình cảm dân túy rằng chính phủ không nên cứu trợ những chủ nhà đã vay thế chấp mà họ không đủ khả năng trả, nhưng cũng chính vì lẽ đó, việc cho vay nặng lãi bị coi là tội lỗi trong hầu hết các nền văn hóa.
Một cách mà các tôn giáo có tổ chức đã giải quyết vấn đề này là tuyên bố rằng bản thân nợ là một điều xấu về mặt đạo đức, không có bên vay hay bên cho vay nào chiếm giữ vị trí đạo đức cao cả. Kinh thánh có xu hướng gộp tội lỗi và nợ nần, đặc biệt là những phần được dịch từ tiếng Aramaic, nơi từ "khoba" có cả hai nghĩa, giống như cách từ "trái phiếu" trong tiếng Đức hiện đại, "Schuld," cũng có nghĩa là "tội lỗi." Trong khi đó, sự tha thứ (cho nhiều thứ, bao gồm cả nợ) là phẩm chất của lòng nhân từ, và Đệ Nhị Luật yêu cầu xóa nợ sau mỗi bảy năm, và một lễ toàn xá, bao gồm việc trả lại tài sản bị tịch thu và giải phóng nô lệ, sau mỗi 50 năm.
Sự kết hợp đó, vừa xấu xí về
mặt đạo đức vừa hấp dẫn về mặt nghệ thuật, quen thuộc với hầu hết những người
yêu nghệ thuật.
Một phần của vấn đề là một khoản vay là một hợp đồng ràng buộc pháp lý, có thể được thi hành bởi các cơ quan có thẩm quyền cao nhất. Trong các xã hội mà đó là một cơ quan tôn giáo, việc cân bằng giữa các mệnh lệnh cạnh tranh của việc trả nợ và sự tha thứ sẽ luôn khó khăn. Điều này có thể dẫn đến nhiều lời nguyền rủa khác nhau chống lại việc gánh nợ. "Đừng đứng ra bảo lãnh cho món nợ của người khác" là một trong ba điều răn được khắc trên đền thờ Apollo ở Delphi và theo luật Sharia, người cho vay không được phép tính lãi.
Điều gì xảy ra khi lệnh cấm tính lãi của Hồi giáo gặp phải sự phụ thuộc của chủ nghĩa tư bản hiện đại vào tài chính nợ? Câu trả lời là thị trường tài chính Hồi giáo trị giá 5.000 tỉ USD, được xây dựng trên nhiều cách thông minh khác nhau để tính lãi một cách hiệu quả trong khi vẫn tuân thủ luật Sharia. Đối với một người quan sát thế tục, cấu trúc của một sukuk, một loại trái phiếu Hồi giáo, có thể là một cách giải quyết thú vị và đẹp đẽ cho vấn đề nan giải này.
Không phải ai cũng nhìn nhận như vậy. Mona Siddiqi, giáo sư về tôn giáo và xã hội tại Kings College London, chê sukuk là "màn thể dục dụng cụ tôn giáo" mà người Hồi giáo sử dụng để thu lãi từ các đồng đạo của họ trong khi làm cho có vẻ như họ đang sùng đạo hơn những người cho vay thế tục. Ở cấp độ đạo đức, việc tìm kiếm các kẽ hở có thể là một điều xấu, ngay cả khi các cấu trúc được sử dụng để tạo ra những kẽ hở đó rất thông minh và ấn tượng về mặt thẩm mỹ. Sự kết hợp đó, vừa xấu xí về mặt đạo đức vừa hấp dẫn về mặt nghệ thuật, quen thuộc với hầu hết những người yêu nghệ thuật, chỉ cần nghĩ đến một bức tranh của Francis Bacon.

Trong thế giới nói tiếng Anh, nợ thường, không phải lúc nào cũng vậy! có những ý nghĩa tích cực hơn nhiều. (Hãy xem xét, ví dụ, hai ý nghĩa của từ "redemption" - sự chuộc lỗi/sự mua lại.) Trong một bài phát biểu năm 1834, chính khách người Mỹ Daniel Webster đã nói rằng "tín dụng là không khí sống còn của hệ thống thương mại hiện đại và đã làm giàu cho các quốc gia nhiều hơn, 1.000 lần nhiều hơn, tất cả các mỏ trên thế giới." Đặc biệt là ở Mỹ, quốc gia lạc quan nhất, nợ thường được xem là phương tiện để làm giàu chứ không phải để bần cùng hóa. Donald Trump tự gọi mình là "vua nợ." "Tôi đã kiếm được cả một gia tài bằng cách sử dụng nợ," ông nói với CBS News vào năm 2016.
Trump cũng rất sớm áp dụng chiến lược hiện đã phổ biến là sử dụng nợ để có được những món đồ xa xỉ dễ thấy như một cách để cố gắng báo hiệu việc sở hữu sự giàu có. Trong trí tưởng tượng của công chúng, một người đang vật lộn dưới gánh nặng nợ nần khổng lồ đang sống lay lắt và gần như nghèo đói; thực tế, ngược lại, họ thường mua vé hạng nhất đến Dubai bằng thẻ tín dụng và thuê một chiếc Lamborghini trong ba giờ để có thể phô diễn sự giàu có trên Instagram. Trong khi sống dưới gánh nặng nợ sinh viên lớn có thể làm giảm nghiêm trọng khả năng chi tiêu và tiêu dùng của bạn, các hình thức nợ khác có thể làm tăng nó lên rất nhiều.
Tiêu dùng bằng nợ có xu hướng gây ra sự ghê tởm, và trong thế giới nghệ thuật, nợ thường bị gộp chung với chủ nghĩa tư bản như một thứ cần phải chống lại. Dù vậy, không thiếu những cách tiếp cận tinh tế hơn. Tôi là một người hâm mộ chiếc cặp acrylic của Jennifer Dalton (ảnh dưới) chứa đầy các đề nghị thẻ tín dụng trong một năm, tổng cộng 1.351.220 USD tín dụng tiềm năng từ các ngân hàng khác nhau, một sự suy ngẫm về cái mà cô gọi là "lời mời liên tục để trở nên vô trách nhiệm." "Rõ ràng nếu tôi chấp nhận một hoặc nhiều đề nghị, những đề nghị khác có lẽ đã bị hủy bỏ," cô nhận xét một cách khô khan.
Jack Butcher, tại Art Basel 2025, đã có một cách tiếp cận kinh doanh rõ ràng hơn, khi chi 74.211 USD tiền túi để thuê và chế tạo vật liệu cho một gian hàng tại hội chợ nghệ thuật danh tiếng. Anh đặt con số đó lên một bảng lật, và khách tham quan có thể mua một hóa đơn từ máy tự thanh toán để làm cho con số đó giảm xuống. Gian hàng cuối cùng chỉ đủ bù chi phí và sau đó anh đã bán toàn bộ nó như một tác phẩm nghệ thuật độc nhất với giá 95.000 USD cho Bảo tàng X ở Bắc Kinh, nghĩa là cuối cùng anh đã kiếm được một khoản lợi nhuận kha khá.

Tuy nhiên, tác phẩm nghệ thuật vĩ đại nhất liên quan đến nợ lại có từ hơn một thế kỷ trước, vào năm 1924, khi Marcel Duchamp, cha đẻ của chủ nghĩa khái niệm (và là chủ đề của một cuộc triển lãm hồi tưởng lớn tại MoMA ở New York cho đến ngày 22 tháng 8), đã phát hành một loạt trái phiếu 500 franc, trả lãi 100 franc mỗi năm, để gây quỹ cho ông đi đánh bạc ở Monte Carlo. Ông có một hệ thống sẽ thắng ở trò roulette, giống như tất cả các hệ thống như vậy, đó là một biến thể của chiến thuật đặt cược martingale (2) (sau mỗi lần thua hãy đặt gấp đôi - biên tập), và vì vậy ông đã vay tiền để thử nó.
Các trái phiếu này trị giá khoảng 25 USD mỗi chiếc khi ông phát hành, và những người mua đều đủ thông minh để giữ chúng như tác phẩm nghệ thuật thay vì cắt coupon và đòi Duchamp trả lại tiền. (Về phần mình, Duchamp thấy rằng việc chơi theo hệ thống của mình quá nhàm chán nên ông đã từ bỏ sau khi hòa vốn.) Vào tháng Năm, một trong những trái phiếu này đã được bán tại Christie's với giá 1,1 triệu USD, thể hiện một mức tăng giá hàng năm ấn tượng khoảng 11%. (Tuy nhiên, người bán lại lỗ nặng, vì đã mua tác phẩm này vào năm 2015 với giá 2,4 triệu USD.)
Các hình thức nghệ thuật khác có lẽ tương tự hơn với loại hình nghệ thuật được tìm thấy trong thị trường trái phiếu. Luật sư Buchheit, một người kỳ cựu với vô số giờ đàm phán nợ, nói rằng chúng giống như một vở ballet và một sự thay đổi giọng điệu được tính toán cẩn thận, từ sự khuyến khích thân tình đến sự thất vọng buồn bã, là một trong những chiến thuật đàm phán mạnh mẽ nhất của ông. Hoặc có lẽ hình thức nghệ thuật lâu đời nhất là phù hợp nhất: Bất kỳ nhân viên ngân hàng đầu tư thị trường vốn nợ nào cũng sẽ nói với bạn rằng kỹ năng quan trọng nhất của họ là kể chuyện.
Một lý do mà các chuyên gia tài chính thường không nghĩ nhiều về khía cạnh nghệ thuật của những gì họ làm là vì những con số họ xử lý lớn hơn nhiều bậc so với bất cứ thứ gì được tìm thấy trong thế giới của các tác phẩm nghệ thuật, ballet và những câu chuyện. Milken, ví dụ, là vua của các thương vụ mua lại bằng vốn vay (leveraged buyout), nơi các nhà đầu cơ doanh nghiệp sẽ mua các công ty trị giá hàng tỉ đô la giống như cách bạn có thể mua một ngôi nhà, trả trước 20% và vay phần còn lại dựa trên dòng tiền của chính công ty đó. Cái nhìn sâu sắc của ông, đã tạo ra hàng ngàn tỉ đô la giao dịch trong nhiều năm, là các công ty có thể phát hành nợ hạng rác với số lượng khổng lồ, thay vì những trái phiếu đó chỉ là những "thiên thần sa ngã" ban đầu được phát hành với xếp hạng cấp độ đầu tư. Chỉ cần gắn một coupon đủ hấp dẫn vào một trái phiếu, và gần như bất kỳ nhà phát hành nào cũng có thể tiếp cận thị trường.
Để biến tầm nhìn của mình thành hiện thực, ông đã dựa rất nhiều vào các kỹ thuật kể chuyện, thuyết phục cả nhà phát hành và nhà đầu tư rằng bằng cách sử dụng các công cụ mới của mình, tất cả họ đều có thể kiếm được những khoản tiền khổng lồ. Những gì ông không nói cũng quan trọng như những gì ông đã nói: Milken sẽ không tập trung vào số lượng đòn bẩy khủng khiếp ẩn chứa trong các cấu trúc này, và cách nó sẽ hạn chế nghiêm trọng các lựa chọn dành cho ban quản lý. Thực tế, ông thường xuyên thay đổi thuật ngữ khi nó phù hợp với nhu cầu của mình, chẳng hạn "mua lại bằng vốn vay" trở thành "vốn cổ phần tư nhân," "trái phiếu rác" trở thành "lợi suất cao," "sa thải" trở thành "sự cộng hưởng." Hãy gọi đó là nghệ thuật nói giảm, nói tránh.

Liệu có nhà đầu tư nào mua những trái phiếu rác đó thực sự tin rằng công ty sẽ có thể trả lại số tiền đã vay, thay vì chỉ liên tục đảo nợ không? Không! Và đó có lẽ là sự đổi mới khái niệm đáng kinh ngạc nhất. Hầu hết chúng ta đều hiểu một cách trực giác rằng một khoản vay là thứ cần phải được hoàn trả. Alexander Hamilton, trong một câu nói mà Lin-Manuel Miranda đáng tiếc đã không đưa vào vở nhạc kịch bom tấn của mình, đã nổi tiếng (trong giới đam mê nợ) cho rằng "việc tạo ra nợ phải luôn đi kèm với phương tiện để xóa bỏ nó." Ông nói thêm rằng "khó có thể hình dung một tình huống mà ở đó người ta không thể tuân thủ nguyên tắc này."
Trong tài chính cá nhân, nguyên tắc này nhìn chung vẫn còn hiệu lực. Nợ thẻ tín dụng, nợ sinh viên và nợ mua xe của chúng ta đều được thiết kế để được trả dần theo thời gian và cuối cùng được xóa bỏ. Thanh toán khoản vay cuối cùng, khoản chi trả đưa số dư gốc xuống con số không, mang lại cảm giác thật tuyệt vời. Ngay cả đại đa số các khoản thế chấp cũng được cấu trúc theo cách đó, với một lộ trình suôn sẻ cho phép món nợ của bạn, một khoản tiền ban đầu là một bội số đáng sợ của thu nhập hàng năm của bạn, từ từ biến mất trong suốt ba thập kỷ.
Vậy nên, có một vẻ đẹp trong khoản thế chấp trả dần. Nhưng từ quan điểm của nhà đầu tư, nó có thể kém hấp dẫn một cách đáng ngạc nhiên. Điều mà Hamilton không hiểu về nợ tự triệt tiêu là ngay cả sau khi một trái phiếu được hoàn trả, hầu hết các nhà đầu tư vẫn muốn tiếp tục kiếm lãi từ tiền của họ.
Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, có vẻ đẹp còn lớn hơn trong một trái phiếu trả gốc một lần (bullet bond) tiêu chuẩn, nơi người vay chỉ trả đủ sáu tháng một lần để đưa số tiền nợ trở lại mức vay ban đầu, và nơi món nợ không bao giờ thực sự giảm xuống. Khi đáo hạn, toàn bộ số tiền gốc sẽ đến hạn, và không ai trên thị trường vốn mong đợi người vay đã bằng cách nào đó tiết kiệm được để có thể hoàn trả. Thay vào đó, họ chỉ mong đợi rằng một trái phiếu mới sẽ được phát hành để tái cấp vốn cho trái phiếu cũ. Từ quan điểm của các nhà đầu tư, đây là một đặc điểm đáng mong đợi: Nó cho họ lựa chọn, nhưng không phải là nghĩa vụ, để tiếp tục kiếm lãi sau khi trái phiếu đã đáo hạn; và nó nhìn chung làm tăng nhu cầu trên thị trường đối với tiền mặt của họ, điều này lại làm tăng số tiền lãi mà họ có thể mong đợi nhận được.
Do vậy, thị trường trái phiếu đương đại đã phát triển thành một thế giới nơi các khoản nợ không bao giờ được hoàn trả. Khi một quốc gia hoặc một công ty phát hành trái phiếu, mọi người trên thị trường đều mong đợi rằng khoản nợ đó sẽ là một đặc điểm vĩnh viễn trên bảng cân đối kế toán của người vay, với mỗi trái phiếu, lần lượt, được thay thế bằng một trái phiếu mới. Cấu trúc này chỉ ngày càng lớn mạnh, giá trị của tất cả các khoản nợ trên thế giới đã tăng gấp bốn lần từ 84.000 tỉ USD, tương đương 212% tổng sản phẩm thế giới, vào đầu thế kỷ, lên 353.000 tỉ USD, tương đương 306%, ngày nay, theo viện Tài chính Quốc tế.
Đống nợ ngày càng tăng đó, vô hình nhưng hiện hữu khắp nơi, có thể được gọi là núi Janus, theo tên vị thần La Mã hai mặt. Đó là một động cơ tăng trưởng vô song có khả năng gây ra thảm họa tài chính toàn cầu, được tạo thành từ các khoản nợ phải trả đồng thời là tài sản. Đó là người vay và người cho vay, sự ổn định và rủi ro, tội lỗi và sự chuộc lỗi, sự ràng buộc và sự tha thứ. Nó chia rẽ các xã hội và gắn kết chúng lại với nhau, một lời hứa và một mối đe dọa, một công cụ giải phóng và một cơ chế kiểm soát. Điều duy nhất chắc chắn là không ai kiểm soát được nó. Thay vào đó, nó kiểm soát chúng ta, theo những cách vừa rõ ràng vừa tinh vi. Nó có lẽ là văn bản phong phú nhất mà nhân loại từng tạo ra.
(2) Martingale là một cách chắc chắn để thắng trong sòng bạc. Bạn đặt cược một số tiền nhất định, và hoặc thắng hoặc thua. Nếu bạn thắng, tuyệt vời. Nếu bạn thua, bạn lại đặt cược, với số tiền lớn hơn, để nếu bạn thắng, bạn sẽ bù lại tất cả các khoản lỗ của mình cho đến thời điểm đó. Nếu bạn làm điều này đủ lâu, bạn chắc chắn sẽ thắng. Vấn đề duy nhất là có một khả năng đáng kể bạn sẽ hết tiền trước khi điều đó xảy ra. Hoặc, vào thời điểm bạn thắng, sòng bạc không có đủ tiền để trả cho bạn.
Theo Bloomberg
Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn
https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/ve-dep-bat-ngo-cua-nhung-khoan-no-59515.html
Tặng bài viết
Đối với thành viên đã trả phí, bạn có 5 bài viết mỗi tháng để gửi tặng. Người nhận quà tặng có thể đọc bài viết đầy đủ miễn phí và không cần đăng ký gói sản phẩm.
Bạn còn 5 bài viết có thể tặng
Liên kết quà tặng có giá trị trong vòng 7 ngày.
BÀI LIÊN QUAN
Mới nhất
Videos mới nhất