Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Chuyên mục
Media
Báo cáo đặc biệt
Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Khám phá nhiều hơn với tài khoản
Đăng nhập để lưu trữ và dễ dàng truy cập những bài viết bạn yêu thích trên Bloomberg Businessweek Việt Nam.
BBWV - Donald Trump có thể đang làm nhiều hơn việc thay đổi chính sách đối ngoại của Mỹ. Ông đang buộc đồng minh, đối thủ và những quốc gia đứng ngoài cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc phải tính lại cách họ nhìn nhận sức mạnh của Washington.
Hình ảnh: Bloomberg
Tác giả: Thức Quân
03 tháng 09, 2026 lúc 4:00 PM
Tóm tắt bài viết bởi
Sau Thế chiến II, Mỹ xây dựng vị thế lãnh đạo bằng một cách tương đối đặc biệt: sử dụng sức mạnh kinh tế và quân sự để tạo ra một hệ thống mà nhiều quốc gia khác cũng có lợi ích trong việc duy trì. NATO, các định chế tài chính quốc tế, những thỏa thuận thương mại và mạng lưới đồng minh dần hình thành một cấu trúc rộng lớn, trong đó vai trò của Washington gắn với sự ổn định chung. Mỹ hưởng lợi từ hệ thống ấy, đồng thời phải chấp nhận một mức độ ràng buộc nhất định bởi các cam kết mà chính mình đã tạo ra.
Donald Trump đang đặt lại câu hỏi về mô hình đó. Trong cách tiếp cận của ông, chính sách đối ngoại trước hết phải chứng minh được lợi ích trực tiếp đối với nước Mỹ: đồng minh đóng góp bao nhiêu cho quốc phòng, đối tác thương mại đem lại cán cân như thế nào, doanh nghiệp Mỹ được tiếp cận thị trường ra sao và các quốc gia khác đang hưởng lợi đến mức nào từ sức mạnh kinh tế của Washington. Ngoại giao, thương mại và an ninh vì thế ngày càng được kéo gần với những ưu tiên của chính trị và kinh tế trong nước, thay vì được xem như những lĩnh vực có giá trị tự thân đối với một trật tự quốc tế rộng lớn hơn.
Điều đáng chú ý nằm ở sự thay đổi trong cách Mỹ sử dụng quyền lực. Washington từng thường xuyên tìm cách thuyết phục các nước rằng việc duy trì một hệ thống quốc tế ổn định cũng phục vụ lợi ích của họ. Trump thiên về cách tiếp cận khác: cho đối tác thấy cái giá họ phải trả nếu đi ngược lợi ích của Mỹ, rồi dùng quy mô thị trường, sức mạnh tài chính, quân sự và vị thế địa chính trị để tạo sức ép. Thuế quan, trừng phạt kinh tế, hạn chế thương mại và những tuyên bố cứng rắn trở thành các công cụ có thể được đưa lên bàn đàm phán cùng lúc.
Với một nền kinh tế có quy mô lớn như Mỹ, phương thức này tạo ra lợi thế đáng kể. Phần lớn đối tác đều có lý do để giữ quyền tiếp cận thị trường Mỹ, trong khi các doanh nghiệp và chính phủ phải tính đến chi phí nếu quan hệ xấu đi. Washington vì thế có thể giành được những nhượng bộ mà một quốc gia nhỏ hơn khó đạt tới. Tuy nhiên, sức ép chỉ giải quyết được một phần của bài toán quyền lực, bởi một đối tác có thể chấp nhận nhượng bộ trước mắt rồi bắt đầu tìm cách giảm sự phụ thuộc trong dài hạn.
Canada cho thấy rõ nghịch lý này. Quan hệ giữa Mỹ và Canada vốn có mức độ hội nhập sâu hiếm thấy: hàng hóa, năng lượng, nguyên liệu và các chuỗi cung ứng công nghiệp vượt qua biên giới mỗi ngày; hai nước chia sẻ hệ thống an ninh Bắc Mỹ và có lịch sử hợp tác lâu dài. Khi Washington sử dụng thuế quan và sức ép chính trị để buộc Ottawa điều chỉnh, chính sách ấy có thể gây tổn thất cho Canada trong ngắn hạn, nhưng đồng thời tạo thêm động lực để nước này mở rộng thị trường xuất khẩu, củng cố quan hệ với các đối tác khác và giảm mức độ phụ thuộc vào nền kinh tế Mỹ.
Trump có thể tính rằng Canada chịu thiệt hại lớn hơn nếu thương mại bị gián đoạn. Xét về quy mô kinh tế, cách tính này có cơ sở. Nhưng chính trị chẳng vận hành giống một bảng tính, đặc biệt khi một chính phủ phải giải thích với cử tri rằng họ đang chấp nhận sức ép từ một nước láng giềng vốn lâu nay được xem là đồng minh thân cận. Những biện pháp trả đũa của Ottawa vì thế mang ý nghĩa lớn hơn giá trị thương mại đơn thuần: chúng cho thấy sức ép từ Washington có thể tạo ra phản ứng chính trị ngay trong lòng một đồng minh.
Đây là điểm mà những chiến lược dựa nhiều vào cưỡng ép thường dễ đánh giá thấp. Một quốc gia có thể nhượng bộ trong một cuộc đàm phán vì chi phí đối đầu quá lớn, nhưng quyết định ấy chẳng đồng nghĩa họ sẽ tiếp tục duy trì mức độ phụ thuộc cũ. Nếu sức ép được lặp lại, động lực đa dạng hóa càng tăng; thị trường mới được tìm kiếm, chuỗi cung ứng được tái cấu trúc, năng lực quốc phòng được củng cố và các quan hệ ngoại giao được mở rộng. Trong trường hợp đó, một chính sách được thiết kế để tăng sức ảnh hưởng của Mỹ lại có thể thúc đẩy đối tác chuẩn bị cho một thế giới ít phụ thuộc vào Mỹ hơn.
Tác động này chẳng dừng ở Canada. Một đồng minh châu Âu có thể tăng đầu tư quốc phòng sau khi nhận thấy mức độ cam kết của Washington phụ thuộc nhiều hơn vào việc chia sẻ chi phí. Một nền kinh tế châu Á có thể mở rộng thêm thị trường xuất khẩu để tránh bị tổn thương trước một quyết định thuế quan từ Mỹ. Các quốc gia tầm trung có thể duy trì quan hệ với nhiều cường quốc cùng lúc, thay vì đặt phần lớn lợi ích chiến lược vào một đối tác duy nhất. Những thay đổi như vậy thường diễn ra âm thầm, song khi xuất hiện đồng thời ở nhiều khu vực, chúng có thể làm thay đổi cấu trúc quyền lực quốc tế.
Khoảng trống do Washington tạo ra cũng sẽ được các nước khác tìm cách lấp đầy. Khi Mỹ yêu cầu châu Âu chia sẻ nhiều hơn gánh nặng an ninh, ý tưởng về năng lực phòng thủ độc lập của châu Âu có thêm động lực. Khi Mỹ dựng hàng rào thương mại để bảo vệ sản xuất trong nước, các nền kinh tế khác càng có lý do xây dựng chuỗi cung ứng thay thế. Khi niềm tin vào những cam kết dài hạn của Washington suy giảm, các chính phủ sẽ dành nhiều nguồn lực hơn cho phương án dự phòng. Mỗi quyết định riêng lẻ có thể xuất phát từ nhu cầu tự bảo vệ, nhưng tổng hợp lại sẽ tạo ra một thế giới ít tập trung hơn quanh Mỹ.
Điều đó chẳng đồng nghĩa Washington mất vị thế cường quốc. Mỹ vẫn sở hữu những lợi thế mà rất ít quốc gia có thể sánh được, từ quy mô kinh tế, sức mạnh quân sự, đồng USD đến công nghệ, thị trường tiêu dùng và mạng lưới đồng minh rộng khắp. Chính những lợi thế này cho phép Trump sử dụng thuế quan, tài chính và an ninh như những công cụ mặc cả có sức nặng. Điều đang thay đổi nằm ở cách các quốc gia khác tính toán trước những lợi thế ấy.
Trong nhiều thập niên, chiến lược của các nước thường bắt đầu bằng giả định rằng Mỹ sẽ tiếp tục là trung tâm tương đối ổn định của hệ thống quốc tế. Giờ đây, một giả định khác đang hình thành: Mỹ vẫn giữ vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực, nhưng chẳng nên là nơi duy nhất mà một quốc gia đặt cược. Sự khác biệt này có thể dẫn tới nhiều thỏa thuận song phương hơn, các nhóm hợp tác nhỏ hơn và những liên minh được hình thành quanh từng vấn đề cụ thể, từ thương mại, quốc phòng đến công nghệ, năng lượng và khoáng sản chiến lược.
Một thế giới như vậy sẽ tạo thêm không gian cho các nước tầm trung. Khi quyền lực được phân bổ rộng hơn, những quốc gia này có thể mặc cả giữa các đối tác lớn, lựa chọn thị trường và xây dựng quan hệ theo từng lợi ích cụ thể. Đổi lại, họ phải tự gánh nhiều rủi ro hơn. An ninh, chuỗi cung ứng, năng lực công nghiệp và khả năng chống chịu trước các cú sốc thương mại đều cần được chuẩn bị trong nước, thay vì trông chờ vào một cấu trúc quốc tế có thể tự động bảo vệ lợi ích của họ.
Sự thay đổi ấy cũng đặt các thể chế đa phương trước bài toán khó. Liên Hợp Quốc vốn đã chịu sức ép từ cạnh tranh giữa các cường quốc, quyền phủ quyết và những tranh cãi kéo dài về cải cách. Khi Mỹ giảm mức độ tin tưởng vào một số cơ chế đa phương hoặc lựa chọn tham gia theo từng lợi ích cụ thể, những tranh luận về hiệu quả, tính đại diện và thẩm quyền của các thể chế quốc tế càng trở nên gay gắt. Những người ủng hộ Trump có thể coi đây là cơ hội để ép hệ thống cũ thay đổi; các nhà phê bình lại lo ngại rằng quá trình ấy sẽ làm suy yếu chính những cơ chế vốn được tạo ra để ngăn cạnh tranh quyền lực biến thành xung đột rộng hơn.
Lập luận của phía ủng hộ Trump chẳng phải thiếu cơ sở. Mỹ đã phải gánh một phần rất lớn chi phí để duy trì hệ thống an ninh và thương mại toàn cầu trong nhiều thập niên, trong khi một số đồng minh hưởng lợi từ cấu trúc ấy với mức đóng góp thấp hơn kỳ vọng của Washington. Từ góc nhìn này, yêu cầu các nước tăng chi tiêu quốc phòng, mở cửa thị trường hoặc chia sẻ nhiều hơn chi phí an ninh có thể được xem là một cuộc điều chỉnh cần thiết. Một cường quốc cũng có quyền đặt lợi ích của chính mình vào trung tâm chính sách đối ngoại.
Rủi ro xuất hiện khi sự điều chỉnh trở thành trạng thái thường trực. Một hệ thống liên minh có thể chịu được những cuộc mặc cả về lợi ích, nhưng sẽ khó duy trì lòng tin nếu mọi cam kết đều có nguy cơ được định giá lại sau mỗi nhiệm kỳ hoặc mỗi cuộc tranh chấp. Khi đó, các đồng minh bắt đầu đầu tư cho phương án dự phòng thay vì đặt cược thêm vào quan hệ hiện tại. Canada tìm kiếm thị trường khác, châu Âu tăng năng lực phòng thủ, các nền kinh tế châu Á đa dạng hóa chuỗi cung ứng; từng động thái đều hợp lý nếu đứng riêng, song hàng loạt quyết định như vậy có thể làm giảm vai trò trung tâm mà Mỹ từng có.
Đây là nghịch lý lớn nhất trong cách Trump sử dụng sức mạnh. Washington có thể giành thêm nhượng bộ trong từng cuộc thương lượng nhờ quy mô thị trường và sức mạnh địa chính trị, nhưng chính những công cụ ấy cũng khiến đối tác tìm cách tự chủ hơn. Mỹ càng cho thấy khả năng buộc các nước khác thay đổi chính sách, những nước ấy càng có lý do để xây dựng năng lực chống chịu trước sức ép trong tương lai.
Trump có thể rời Nhà Trắng, các mức thuế có thể được điều chỉnh và những căng thẳng với đồng minh có thể dịu xuống. Song cách các quốc gia đã thay đổi tính toán về Mỹ sẽ khó quay lại hoàn toàn như trước. Một khi doanh nghiệp đã tìm chuỗi cung ứng mới, chính phủ đã xây dựng quan hệ thương mại mới hoặc quân đội đã đầu tư cho năng lực tự chủ, những quyết định ấy thường tạo ra quán tính riêng.
Chủ nghĩa Trump xuất hiện có lý do rõ ràng. Nó phản ánh những thay đổi đã diễn ra trong lòng nước Mỹ: Sự bất mãn với chi phí của vai trò lãnh đạo toàn cầu, phản ứng trước toàn cầu hóa, cạnh tranh ngày càng gay gắt với Trung Quốc, nhu cầu bảo vệ sản xuất trong nước và mong muốn đưa chính sách đối ngoại phục vụ trực tiếp hơn cho lợi ích của cử tri Mỹ. Những vấn đề này sẽ tiếp tục tồn tại ngay cả khi Donald Trump chẳng còn là người đứng đầu Nhà Trắng.
Bởi vậy, di sản lớn nhất của Trump có thể chẳng nằm ở một sắc lệnh, một mức thuế hay một cuộc khẩu chiến cụ thể. Điều đáng chú ý hơn là ông đang làm thay đổi cách các nước tính toán về Mỹ. Trong nhiều thập niên, chiến lược của các quốc gia thường bắt đầu bằng câu hỏi Washington sẽ làm gì; trong thế giới đang hình thành, một câu hỏi khác ngày càng trở nên quan trọng: nếu Mỹ thay đổi lập trường, chúng ta sẽ làm gì?
Chỉ riêng sự xuất hiện thường xuyên hơn của câu hỏi ấy đã cho thấy cán cân quyền lực đang dịch chuyển. Mỹ vẫn là một trong những cường quốc có ảnh hưởng lớn nhất thế giới, song một cường quốc hàng đầu trong một hệ thống đa cực sẽ phải vận hành khác với một cường quốc đứng ở trung tâm của hệ thống đơn cực.
Trump có thể đang thúc đẩy sự chuyển đổi ấy nhanh hơn bất kỳ tổng thống Mỹ nào trong nhiều thập niên qua, và nghịch lý là càng buộc các nước khác thích nghi với sức mạnh Mỹ, ông càng khiến họ phải học cách sống trong một thế giới ít phụ thuộc vào Mỹ hơn.
Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn
https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/trump-dang-thay-doi-the-gioi-nhu-the-nao-60057.html
Tặng bài viết
Đối với thành viên đã trả phí, bạn có 5 bài viết mỗi tháng để gửi tặng. Người nhận quà tặng có thể đọc bài viết đầy đủ miễn phí và không cần đăng ký gói sản phẩm.
Bạn còn 5 bài viết có thể tặng
Liên kết quà tặng có giá trị trong vòng 7 ngày.
BÀI LIÊN QUAN
Mới nhất
Videos mới nhất