Nghịch lý Reshoring: Mỹ chật vật kéo nhà máy về nước, Việt Nam hưởng lợi lớn

BBWV - Báo cáo Chỉ số Reshoring 2026 của Kearney cho thấy, nỗ lực kéo các nhà máy về nước của Washington trên thực tế còn cách xa kỳ vọng. Khoảng trống từ tham vọng chưa thành của Mỹ đang tạo ra cú hích cho các trung tâm sản xuất châu Á, đặc biệt là vị thế chuỗi cung ứng công nghệ của Việt Nam.

Bên trong nhà máy sản xuất mẫu máy bay Boeing 737 Max tại Renton, Washington, Mỹ. Hình ảnh: M. Scott Brauer

Tác giả: Linh Chi

11 tháng 06, 2026 lúc 9:00 AM

Tóm tắt bài viết bởi

logo
  • Theo Kearney, nỗ lực đưa sản xuất về nước của Mỹ gặp khó khi giá trị nhập khẩu hàng hóa năm 2025 tăng thêm 133 tỉ USD, đạt gần 3.000 tỉ USD.
  • Dù chi tiêu sản xuất tại Mỹ tăng lên gần 224 tỉ USD mỗi tháng năm 2025, năng lực thực tế chỉ tăng 1,5% và chỉ 18% CEO tự tin vào hiệu quả reshoring.
  • Nhập khẩu từ Trung Quốc vào Mỹ giảm 135 tỉ USD năm 2025, nhưng dòng vốn dịch chuyển sang 13 nước châu Á chi phí thấp với mức tăng 194 tỉ USD.
  • Việt Nam hưởng lợi lớn khi nhập khẩu máy tính và điện tử vào Mỹ tăng 40 tỉ USD năm 2025, nhờ chi phí sản xuất laptop và smartphone cạnh tranh nhất.
  • Ông Patrick Van den Bossche khuyên Việt Nam nên tập trung xây dựng hệ sinh thái nhà cung ứng và logistics thay vì sa vào cuộc đua trợ cấp tài chính.

Trong nhiều năm, giới hoạch định chính sách Mỹ theo đuổi một mục tiêu tưởng chừng đơn giản: Đưa sản xuất trở về nước (reshoring). Trong chính sách thuế quan và các gói hỗ trợ công nghiệp quy mô lớn đã được công bố đều cho thấy, nỗ lực của Washington để giảm phụ thuộc vào hàng nhập khẩu và củng cố năng lực sản xuất nội địa.

Tuy nhiên, dữ liệu mới nhất trong báo cáo Chỉ số Reshoring 2026 của Kearney, công ty tư vấn toàn cầu sẽ kỷ niệm 100 năm thành lập vào năm nay, cho thấy kết quả đang cách xa kỳ vọng của chính phủ Mỹ. 

Giấc mơ hồi hương dang dở 

Tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu sản xuất của Mỹ đã tăng thêm 133 tỉ USD trong năm 2025, đưa tổng giá trị nhập khẩu hàng hoá sản xuất lên gần 3.000 tỉ USD, mức cao nhất trong 4 năm. 

Tuy nhiên, sản lượng sản xuất nội địa gần như đi ngang, khiến tỉ lệ nhập khẩu/sản lượng sản xuất (Manufacturing Import Ratio - MIR) tăng gần 2 điểm phần trăm trong hai năm từ 2023 tới 2025. 

Sau nhiều năm thúc đẩy reshoring, nền kinh tế Mỹ không phụ thuộc ít hơn vào hàng nhập khẩu mà ngược lại đang phụ thuộc nhiều hơn. Xu hướng này cũng được phản ánh qua chỉ số tự chủ sản xuất (Self-sufficiency index). Chỉ số này giảm xuống còn 2,3 trong năm 2025, mức thấp nhất trong một thập kỷ.

Điều đáng chú ý là tình trạng này diễn ra trong bối cảnh đầu tư vào sản xuất đã tăng gần gấp ba lần kể từ sau đại dịch. Theo báo cáo từ Kearney, chi tiêu vốn cho sản xuất tại Mỹ đã tăng từ khoảng 82 tỉ USD mỗi tháng trong năm 2021 lên gần 224 tỉ USD mỗi tháng trong năm 2025. Tuy nhiên, năng lực sản xuất thực tế chỉ tăng khoảng 1,5%.

Một phần nguyên nhân nằm ở độ trễ của các dự án công nghiệp quy mô lớn như bán dẫn, pin và dược phẩm. Nhưng theo nhóm phân tích từ Kearney, vấn đề không chỉ là thời gian.

Khoảng cách giữa tham vọng chính sách và quyết định của doanh nghiệp đang ngày càng nới rộng. Có 18% CEO được Kearney khảo sát cho biết họ "rất tự tin" vào khả năng đạt được tỉ suất sinh lời như kỳ vọng từ các dự án reshoring hoặc nearshoring, giảm mạnh từ mức 47% của năm trước. Trong khi đó, 57% doanh nghiệp dự định điều chỉnh đáng kể chiến lược chuỗi cung ứng khi chờ đợi những tín hiệu chính sách ổn định hơn.

“Dữ liệu cho thấy điều thực sự diễn ra là dịch chuyển dòng hàng và địa điểm sản xuất, chứ chưa phải tái công nghiệp hoá hoạt động sản xuất,” ông Patrick Van den Bossche, đối tác cấp cao tại Kearney trả lời Bloomberg Businessweek Vietnam

Nói cách khác, doanh nghiệp đang dịch chuyển chuỗi cung ứng để giảm rủi ro địa chính trị, nhưng chưa sẵn sàng đặt cược vào việc xây dựng năng lực sản xuất mới quy mô lớn tại Mỹ.

Chuỗi cung ứng đang rời Trung Quốc, nhưng không quay về Mỹ

Dữ liệu của Kearney cho thấy, phần lớn hoạt động sản xuất rời Trung Quốc không quay về Bắc Mỹ mà đang được phân bổ lại sang các nền kinh tế có chi phí sản xuất thấp hơn, đặc biệt là các nền kinh tế ở châu Á. 

Nhập khẩu hàng sản xuất từ Trung Quốc vào Mỹ giảm khoảng 135 tỉ USD trong năm 2025. Tuy nhiên, phần sụt giảm này không được thay thế bằng sản lượng sản xuất mới tại Mỹ. 

Thay vào đó, 13 nền kinh tế chi phí thấp tại châu Á (ngoại trừ Trung Quốc) thu hút thêm 194 tỉ USD giá trị nhập khẩu từ Mỹ, cao nhất trong số các đối tác được Kearney thống kê. Khoản giá trị tăng thêm này gấp gần 6 lần Mexico, và gấp 3 lần khu vực châu Âu. 

Khảo sát của Kearney cho thấy 75% doanh nghiệp Mỹ lựa chọn chuyển nguồn cung khỏi Trung Quốc sang các quốc gia có chi phí thấp khác. Chỉ 20% cân nhắc tăng cường sản xuất trong nước. Điều đang diễn ra không phải là hồi hương sản xuất theo đúng nghĩa, mà là sự tái phân bổ sản xuất sang các trung tâm mới.

Việt Nam hưởng lợi từ xu hướng reshoring, nhưng không theo cách Mỹ kỳ vọng

Trong số những quốc gia hưởng lợi từ làn sóng dịch chuyển này, Việt Nam nổi lên như một trong những điểm đến đáng chú ý nhất.

Đây không đơn thuần là hệ quả của các mức thuế mới. Trong hơn một thập kỷ qua, Việt Nam đã trở thành một trong những trung tâm sản xuất điện tử lớn nhất thế giới, thu hút hàng loạt tập đoàn công nghệ và mạng lưới nhà cung ứng vệ tinh.

Khi các doanh nghiệp toàn cầu bắt đầu tìm kiếm một lựa chọn thay thế Trung Quốc, Việt Nam là một trong số ít nền kinh tế có đủ quy mô, năng lực sản xuất và độ mở thương mại để hấp thụ nhanh dòng dịch chuyển đó, báo cáo nhận xét. 

Ở nhóm máy tính và điện tử, lĩnh vực chiếm khoảng 44% tổng nhập khẩu của Mỹ từ các nền kinh tế chi phí thấp tại châu Á, nhập khẩu từ Việt Nam tăng thêm khoảng 40 tỉ USD trong năm 2025, tương đương mức tăng 62%.

Điều đáng chú ý là làn sóng dịch chuyển này diễn ra đúng vào thời điểm nhu cầu điện tử toàn cầu bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới nhờ trí tuệ nhân tạo.

Theo Kearney, phần lớn mức tăng 161 tỉ USD nhập khẩu nhóm máy tính và điện tử trong năm 2025 đến từ nhu cầu đối với máy chủ AI, hệ thống điện toán hiệu năng cao, thiết bị lưu trữ và hạ tầng trung tâm dữ liệu. Máy chủ AI hiện có giá trị cao gấp nhiều lần so với máy chủ truyền thống, kéo theo nhu cầu lớn đối với toàn bộ chuỗi cung ứng điện tử.

Điều đó đồng nghĩa Việt Nam không chỉ hưởng lợi từ sự dịch chuyển địa lý của chuỗi cung ứng mà còn từ sự mở rộng quy mô của chính thị trường điện tử toàn cầu.

Ông Patrick nhận xét, Việt Nam là địa điểm sản xuất có lợi thế chi phí lớn nhất đối với cả laptop và smartphone, ngay cả sau khi đã tính đến tác động của các mức thuế mới được Mỹ áp dụng trong năm 2025.

Nếu lấy chi phí sản xuất tại Mỹ làm chuẩn 100 điểm, chi phí sản xuất laptop tại Việt Nam ở mức tương đương 67 điểm, thấp hơn Trung Quốc, Mexico và Ấn Độ. Với smartphone, Việt Nam cũng là lựa chọn có chi phí cạnh tranh nhất khi chỉ số này đạt 86 điểm. 

Tuy nhiên, theo nhóm nghiên cứu từ Kearney, lợi thế này mang tính cấu trúc chứ không đơn thuần là hệ quả của thương mại hay thuế quan. “Doanh nghiệp ngày nay không còn tìm kiếm địa điểm sản xuất rẻ nhất. Họ tìm kiếm nơi có thể vận hành ổn định nhất với chi phí hợp lý nhất,” ông Patrick viết trong thư điện tử. 

Tuy nhiên, rủi ro lớn nhất đối với Việt Nam, dưới góc nhìn của vị chuyên gia là sa vào cuộc đua trợ cấp với các đối thủ như Ấn Độ.

Thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi tài chính, Việt Nam cần tập trung vào việc mở rộng sản xuất linh kiện, năng lực kiểm định và thử nghiệm sản phẩm, đồng thời đầu tư mạnh hơn vào logistics, độ tin cậy của hạ tầng năng lượng và chất lượng lao động. 

Nói cách khác, lợi thế dài hạn của Việt Nam sẽ không nằm ở chi phí lao động thấp, mà ở khả năng trở thành một mắt xích ổn định và khó thay thế trong hệ sinh thái sản xuất toàn cầu.

Mexico là đối thủ hay động lực tăng trưởng?

Một trong những câu hỏi lớn nhất đối với Việt Nam hiện nay là liệu làn sóng nearshoring sang Mexico tác động thế nào tới Việt Nam? Câu trả lời, theo ông Patrick là “chất xúc tác hỗ trợ cho vị thế của Việt Nam hơn là một mối đe doạ.”

Giá trị nhập khẩu máy tính và điện tử của Mexico đã tăng 47 tỉ USD vào năm 2025, nhưng mức tăng trưởng này tập trung ở khâu lắp ráp cuối cùng ở hạ nguồn.

Quan trọng hơn, để phục vụ nhu cầu xuất khẩu gia tăng, Mexico đã tăng nhập khẩu từ châu Á gần 18% trong năm 2025, phản ánh sự phụ thuộc tiếp tục của các nhà máy tại Bắc Mỹ vào mạng lưới cung ứng tại châu Á.

Sự mở rộng của Mexico đang tạo thêm nhu cầu đối với các linh kiện và đầu vào sản xuất từ châu Á, trong đó có Việt Nam. “Xu hướng nearshoring không thay thế Việt Nam, và đưa dòng chảy hàng hoá qua Việt Nam tới Mỹ," ông Patrick phân tích. 

Trong ngắn hạn, một hệ sinh thái lắp ráp mạnh hơn tại Bắc Mỹ có thể giúp gia tăng nhu cầu đối với linh kiện và bán thành phẩm từ Việt Nam thay vì thay thế chúng.

Tuy nhiên, về dài hạn, rủi ro sẽ xuất hiện nếu Bắc Mỹ xây dựng được các hệ sinh thái nhà cung ứng nội địa sâu hơn hoặc siết chặt các quy tắc thương mại trong các vòng đàm phán USMCA tiếp theo.

Tận dụng cơ hội xây dựng vị thế mới 

Để hợp tác sản xuất Mỹ – Việt Nam vượt qua tính chất giao dịch thuần túy, việc cùng nhau xây dựng năng lực bổ trợ cho nhau sẽ là con đường hứa hẹn nhất, ông Patrick viết. 

Cụ thể, vị chuyên gia gợi ý Việt Nam nên tự định vị mình là một đối tác cùng phát triển (co-development partner) thay vì chỉ dừng lại là đối tác xuất khẩu. Đặt trong bối cảnh đó, Mỹ có thể xem Việt Nam như một phần của hệ sinh thái nguồn cung đáng tin cậy, chứ không chỉ là một điểm đến để trục lợi chênh lệch thuế quan.

Việt Nam, như ông Patrick hình dung nên nắm bắt cơ hội thông qua việc xây dựng một hệ sinh thái nhà cung ứng cấp 2 và cấp 3, đồng thời củng cố năng lực cho các nhà cung ứng nội địa, chỉ không đơn thuần là nâng cao công suất lắp ráp các sản phẩm hiện hữu.

Các nhà máy có thể dịch chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác. Nhưng những hệ sinh thái công nghiệp được xây dựng qua nhiều năm thường khó thay thế hơn nhiều.

"Chúng tôi không tin vào chuỗi cung ứng phi toàn cầu hoá sẽ là tương lai, chúng tôi kỳ vọng một chuỗi cung ứng được xây dựng dựa trên sự tin tưởng của các đối tác sẽ là con đường tốt nhất phía trước,” ông Patrick viết trong thư điện tử trả lời người viết. 

Câu hỏi đối với Việt Nam không còn là liệu quốc gia này có tiếp tục hưởng lợi từ làn sóng dịch chuyển sản xuất, mà liệu Việt Nam có thể tận dụng cơ hội đó để trở thành một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu hay không.

Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn

https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/giac-mo-dua-san-xuat-tro-lai-my-tao-co-hoi-lon-cho-viet-nam-58500.html

#Việt Nam
#sản xuất
#reshoring
#Mỹ
#Reshoring Mỹ
#Chính sách công nghiệp Mỹ
#Sản xuất nội địa Mỹ
#Nhập khẩu Mỹ
#chuỗi cung ứng toàn cầu
#kinh tế Mỹ
#Chỉ số Reshoring 2026
#Báo cáo Kearney
#Dịch chuyển sản xuất
#Việt Nam sản xuất
#Nghịch lý làn sóng reshoring của nền kinh tế Mỹ
#Việt Nam hưởng lợi từ làn sóng reshoring của Mỹ