Điện khí Đông Nam Á đang đối mặt với bài toán triển khai

BBWV - Tăng trưởng nhu cầu LNG của Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, phụ thuộc vào việc triển khai các dự án điện khí. Nhưng chưa đến một nửa công suất theo kế hoạch có khả năng được xây dựng.

Hình ảnh: PV Gas

Tác giả: BloombergNEF

23 tháng 07, 2026 lúc 6:15 PM

Tăng trưởng nhu cầu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) của Đông Nam Á ngày càng phụ thuộc vào khả năng triển khai các dự án nhà máy điện khí đã được lên kế hoạch.

BloombergNEF dự báo nhập khẩu LNG của khu vực sẽ tăng gấp ba vào năm 2035, nhờ việc đưa vào vận hành các nhà máy điện khí mới và sản lượng khí tự nhiên trong nước suy giảm. Tuy nhiên, tình trạng chậm trễ kéo dài tại các dự án điện khí có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng nhập khẩu LNG.

Trong kịch bản cơ sở của BNEF, nhập khẩu LNG sẽ tăng lên 84 triệu tấn vào năm 2035 từ 28 triệu tấn của năm ngoái, với giả định 44% trong tổng số 78 gigawatt công suất điện khí mới theo kế hoạch của khu vực được xây dựng. Việt Nam và Malaysia là hai quốc gia có quy mô bổ sung công suất lớn nhất.

geopolitical_risks_gas_power_vi

Mặc dù năng lượng tái tạo sẽ tiếp tục mở rộng nhanh chóng, điện từ nhiên liệu hóa thạch vẫn sẽ là trụ cột của hệ thống điện Đông Nam Á đến năm 2035, cung cấp nguồn điện ổn định và linh hoạt nhằm hỗ trợ vận hành lưới điện.

Tuy nhiên, việc triển khai các dự án điện khí ngày càng gặp nhiều thách thức. Trong bối cảnh các chính phủ vẫn phụ thuộc vào nguồn điện có thể huy động theo yêu cầu, giá LNG duy trì ở mức cao có thể khiến một số nước cân nhắc tiếp tục bổ sung công suất điện than sau năm 2030. Bên cạnh đó, tình trạng thiếu tua-bin khí và các hợp đồng mua bán điện (PPA) có cấu trúc làm suy giảm hiệu quả tài chính của dự án cũng tiếp tục trì hoãn quyết định đầu tư.

Nếu tiến độ đóng cửa các nhà máy điện than chậm hơn dự kiến và các dự án điện than đã được phê duyệt tại Thái Lan, Malaysia và Philippines hoàn thành đúng kế hoạch, nhu cầu LNG của khu vực có thể giảm 5,6 triệu tấn vào năm 2035 so với kịch bản cơ sở. Nếu Việt Nam tiếp tục xây dựng thêm các nhà máy điện than sau năm 2030, lượng LNG nhập khẩu của nước này có thể chỉ bằng khoảng một nửa so với dự báo trong kịch bản cơ sở.

Theo BNEF, Việt Nam đối mặt với rủi ro triển khai lớn nhất khi các chủ đầu tư vẫn gặp khó khăn trong việc hoàn tất hợp đồng mua bán điện với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), khiến quyết định đầu tư tiếp tục bị trì hoãn.

Malaysia đã bảo đảm được nguồn cung tua-bin khí cho các dự án theo kế hoạch, dù thời gian bàn giao vẫn chưa chắc chắn. Tại Indonesia, việc tiếp tục phát triển điện than có thể làm giảm hệ số vận hành của các nhà máy điện khí.

Trong khi đó, tại Philippines, cơ chế huy động điện chưa rõ ràng tiếp tục làm suy yếu hiệu quả kinh tế của các dự án. Singapore vẫn là thị trường khí phát triển nhất khu vực, song mức độ khai thác các nhà máy điện khí mới có khả năng sử dụng hydro sẽ phụ thuộc vào tốc độ phát triển năng lượng tái tạo và nhu cầu cân bằng hệ thống điện.

Theo Bloomberg

Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn

https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/dong-nam-a-doi-mat-rui-ro-trien-khai-du-an-dien-khi-59375.html

#LNG
#điện khí
#Đông Nam Á
#Nhà máy điện khí
#Nhập khẩu LNG
#Tăng trưởng nhập khẩu LNG
#BNEF
#Việt Nam
#Malaysia
#Thái Lan

Mới nhất

Videos mới nhất