Đồng yen suy yếu và lạm phát khiến Đài Loan dần hấp dẫn hơn Nhật Bản với lao động xuất khẩu Việt Nam

BBWV - Đồng yen mất giá, chi phí sinh hoạt ở Nhật Bản leo thang và thu nhập thực tế suy giảm đang làm thay đổi lựa chọn của lao động Việt.

Nguồn: Báo Chính phủ

Tác giả: Thường Quân

31 tháng 07, 2026 lúc 11:50 AM

Tóm tắt bài viết bởi

logo
  • Trong nửa đầu năm 2026, Nhật Bản tiếp nhận 28.488 lao động Việt Nam, trong khi Đài Loan bám sát với 28.205 người, thu hẹp khoảng cách giữa hai thị trường.
  • Đồng yen suy yếu ở mức 150 đến 160 yen đổi một USD cùng lạm phát tăng cao khiến thu nhập quy đổi của lao động Việt Nam tại Nhật Bản giảm mạnh.
  • Từ tháng 7 năm 2026, Nhật Bản tăng lệ phí gia hạn tư cách lưu trú từ 10.000 yen lên tối đa 100.000 yen, tạo thêm gánh nặng tài chính lớn.
  • Từ đầu năm 2026, Đài Loan nâng lương cơ bản lên 29.500 Đài tệ mỗi tháng, giúp lao động Việt Nam đạt thu nhập từ 35 đến 40 triệu đồng.
  • Hồ sơ đăng ký đi Nhật Bản tại nhiều doanh nghiệp giảm từ 30% đến 50% trong nửa đầu năm 2026, khi người lao động chuyển hướng sang Đài Loan.

Trong gần hai thập kỷ qua, Nhật Bản luôn được xem là thị trường xuất khẩu lao động hấp dẫn nhất đối với người Việt. Mức thu nhập cao, nhu cầu tuyển dụng lớn cùng môi trường làm việc ổn định giúp quốc gia này liên tục dẫn đầu về số lượng lao động Việt Nam sang làm việc mỗi năm. Thế nhưng, lợi thế ấy đang dần bị bào mòn. Đồng yen duy trì ở vùng giá thấp trong thời gian dài, lạm phát đẩy chi phí sinh hoạt lên mức cao nhất trong nhiều năm và hàng loạt khoản phí phát sinh khiến khả năng tích lũy của người lao động suy giảm đáng kể. Trong khi đó, Đài Loan (Trung Quốc) lại nổi lên nhờ đồng tiền ổn định hơn, mức lương cơ bản liên tục được điều chỉnh và chi phí sinh hoạt dễ kiểm soát hơn. Sự thay đổi này đang tạo ra bước ngoặt đối với thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam.

Số liệu của Bộ Nội vụ Nhật Bản cho thấy Việt Nam hiện vẫn là quốc gia có số lao động nước ngoài lớn nhất tại nước này, với khoảng 570.000 đến hơn 600.000 người, tương đương gần một phần tư tổng số lao động nước ngoài. Cộng đồng lao động Việt trải rộng từ nhóm thực tập sinh kỹ năng, lao động kỹ năng đặc định đến kỹ sư và chuyen gia kỹ thuật. Nhật Bản cũng tiếp tục là thị trường tiếp nhận lao động Việt lớn nhất trong nửa đầu năm 2026 khi có 28.488 người sang làm việc theo hợp đồng.

Tuy nhiên, khoảng cách với Đài Loan đã thu hẹp xuống mức thấp nhất trong nhiều năm. Trong sáu tháng đầu năm, Đài Loan tiếp nhận 28.205 lao động Việt Nam, chỉ ít hơn Nhật Bản vài trăm người. Nếu vài năm trước chênh lệch giữa hai thị trường lên tới hàng chục ngàn người mỗi năm thì nay cán cân đang thay đổi nhanh chóng. Diễn biến này phản ánh sự dịch chuyển trong quyết định của người lao động, khi tiêu chí lựa chọn không còn tập trung vào mức lương ghi trên hợp đồng mà chuyển sang khả năng tích lũy sau khi trừ toàn bộ chi phí sinh hoạt.

Đồng yen suy yếu là nguyen nhân đầu tiên làm thay đổi bài toán kinh tế của lao động Việt tại Nhật Bản. Đồng tiền này đã dao động quanh mức 150 đến 160 yen đổi một USD trong thời gian dài, thấp hơn rất nhiều so với giai đoạn trước đại dịch. Mức lương danh nghĩa của người lao động gần như không thay đổi, song giá trị quy đổi sang đồng Việt Nam giảm đáng kể. Với mức lương phổ biến từ 150.000 đến 200.000 yen mỗi tháng, thu nhập sau quy đổi hiện chỉ tương đương khoảng 25 đến 30 triệu đồng, thấp hơn đáng kể so với thời điểm đồng yen còn mạnh.

Tác động của tỉ giá càng rõ nét khi Nhật Bản bước vào giai đoạn lạm phát kéo dài. Sau nhiều năm gần như không có lạm phát, giá cả hàng hóa và dịch vụ tại nền kinh tế lớn thứ tư thế giới tăng nhanh dưới tác động của chi phí nhập khẩu và đồng yen mất giá. Riêng từ giữa năm 2026, hơn 1.000 mặt hàng thực phẩm thiết yếu tăng giá trung bình khoảng 14%, kéo theo hàng ngàn mặt hàng khác tiếp tục điều chỉnh. Tiền thuê nhà, điện, nước, giao thông và nhiều dịch vụ thiết yếu đều tăng, khiến khoản tiền còn lại sau chi tiêu của người lao động ngày càng thu hẹp.

Đối với nhiều thực tập sinh kỹ năng và lao động phổ thông, phần thu nhập có thể gửi về Việt Nam đã giảm đáng kể dù số giờ làm việc gần như không thay đổi. Nhiều người cho biết kế hoạch tích lũy để xây nhà, trả nợ hoặc mở cơ sở kinh doanh sau khi hồi hương phải kéo dài thêm vài năm. Một bộ phận lựa chọn kết thúc hợp đồng sớm thay vì tiếp tục ở lại trong bối cảnh chi phí sinh hoạt ngày càng cao.

Áp lực tài chính còn đến từ những thay đổi trong chính sách quản lý lao động nước ngoài của Nhật Bản. Từ tháng 7.2026, lệ phí gia hạn hoặc thay đổi tư cách lưu trú tăng từ 10.000 yen lên tối đa 100.000 yen. Với nhóm lao động phổ thông, khoản chi này tương đương hơn nửa tháng lương và trở thành gánh nặng đáng kể. Bắt đầu từ năm 2027, một số diện lưu trú còn yêu cầu trình độ tiếng Nhật cao hơn trước, buộc người lao động phải đầu tư thêm thời gian và chi phí học tập nếu muốn tiếp tục làm việc lâu dài.

Trong khi lợi thế của Nhật Bản suy giảm, Đài Loan lại cải thiện đáng kể sức cạnh tranh. Từ đầu năm 2026, mức lương cơ bản đối với lao động nước ngoài được nâng lên 29.500 Đài tệ mỗi tháng. Với tỉ giá hiện nay, mức lương này tương đương khoảng 24 đến 25 triệu đồng. Sau khi làm thêm giờ và nhận các khoản phụ cấp, nhiều lao động Việt có thu nhập 35 đến 40 triệu đồng mỗi tháng. Khoảng chênh lệch so với Nhật Bản không còn đáng kể, trong khi chi phí sinh hoạt tại Đài Loan thấp hơn rõ rệt.

yen vs taiwan

Nhiều doanh nghiệp tại Đài Loan còn hỗ trợ chỗ ở, bữa ăn hoặc trợ cấp sinh hoạt, giúp người lao động giữ lại tỉ lệ thu nhập cao hơn để gửi về gia đình. Khoảng cách địa lý gần hơn cũng làm giảm chi phí đi lại, đồng thời tạo điều kiện để người lao động dễ dàng về nước khi cần thiết. Đây là những yếu tố ngày càng được người lao động cân nhắc khi lựa chọn thị trường.

Hiện có khoảng 200.000 lao động Việt Nam làm việc hợp pháp tại Đài Loan, tập trung trong các ngành điện tử, cơ khí, chế tạo, xây dựng, nông nghiệp và chăm sóc sức khỏe. Nhu cầu tuyển dụng tại thị trường này vẫn duy trì ở mức cao, trong khi mức lương cơ bản được điều chỉnh tăng gần như hằng năm. Đồng Đài tệ cũng ổn định hơn đồng yen, giúp người lao động dự báo được giá trị khoản tiền tích lũy trong suốt thời gian làm việc.

Sự khác biệt giữa hai thị trường thể hiện rõ nhất ở khả năng tích lũy. Nếu trước đây Nhật Bản vượt trội nhờ mức thu nhập cao, hiện nay nhiều lao động cho rằng khoản tiền thực nhận sau khi trừ tiền thuê nhà, ăn uống, bảo hiểm và các chi phí khác không còn chênh lệch nhiều so với Đài Loan. Trong một số ngành nghề, thu nhập thực tế tại Đài Loan thậm chí cao hơn nhờ chi phí sinh hoạt thấp và tỉ giá ổn định.

Dòng kiều hối gửi về Việt Nam cũng phản ánh tác động của biến động tỉ giá. Theo số liệu gần nhất, Việt Nam nhận khoảng 288,7 tỉ yen kiều hối từ Nhật Bản trong năm tài chính vừa qua, tương đương khoảng 1,78 tỉ USD. Nhật Bản tiếp tục là một trong những nguồn kiều hối lớn nhất của Việt Nam, song giá trị thực của dòng tiền này giảm khi đồng yen suy yếu. Cùng một khoản tiền bằng yen hiện quy đổi được ít đồng Việt Nam hơn so với trước đây, làm giảm sức mua của các hộ gia đình phụ thuộc vào nguồn thu từ người thân làm việc tại Nhật.

Trong khi đó, thu nhập bằng Đài tệ giữ giá trị ổn định hơn khi chuyển về Việt Nam. Nhiều lao động tại Đài Loan cho biết họ vẫn có thể gửi về gia đình từ 20 đến 25 triệu đồng mỗi tháng nếu duy trì lối sống tiết kiệm và làm thêm đều đặn. Đây là mức tích lũy đủ sức tạo khác biệt đối với các hộ gia đình ở nông thôn, đồng thời là yếu tố khiến ngày càng nhiều người lựa chọn Đài Loan thay vì Nhật Bản.

Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cũng ghi nhận sự thay đổi trong nhu cầu của người lao động. Hồ sơ đăng ký đi Nhật theo diện thực tập sinh tại nhiều đơn vị giảm từ 30% đến 50% trong nửa đầu năm 2026, trong khi số người tìm hiểu thị trường Đài Loan tăng lên. Thay vì ưu tiên quốc gia có mức lương danh nghĩa cao nhất, nhiều người dành thời gian so sánh chi phí sinh hoạt, tỉ giá, thu nhập sau thuế và khả năng tích lũy trước khi đưa ra quyết định.

Xu hướng này diễn ra trong bối cảnh thị trường lao động trong nước cũng cải thiện đáng kể. Nhiều doanh nghiệp sản xuất và xây dựng tại Việt Nam hiện trả lương từ 15 đến 17 triệu đồng mỗi tháng đối với lao động phổ thông, còn lao động kỹ thuật có thể nhận 25 đến 30 triệu đồng. Khi khoảng cách thu nhập với Nhật Bản thu hẹp, quyết định ra nước ngoài ngày càng phụ thuộc vào hiệu quả tài chính thực tế thay vì kỳ vọng về mức lương cao như trước.

Dù vậy, Nhật Bản vẫn giữ nhiều lợi thế mà các thị trường khác khó thay thế trong ngắn hạn. Quốc gia này đang đối mặt với tình trạng già hóa dân số và thiếu hụt nhân lực nghiêm trọng trong các lĩnh vực sản xuất, xây dựng, điều dưỡng và dịch vụ. Nhu cầu tuyển dụng lao động nước ngoài vẫn rất lớn, đặc biệt đối với nhóm lao động có tay nghề, trình độ chuyen môn và khả năng sử dụng tiếng Nhật. Cơ hội chuyển sang diện kỹ năng đặc định hoặc định cư lâu dài cũng là lợi thế riêng của thị trường Nhật Bản.

Tuy nhiên, yếu tố quyết định với nhóm lao động phổ thông là số tiền có thể mang về sau nhiều năm làm việc. Khi đồng yen mất giá làm suy giảm lợi thế tích lũy và lạm phát tiếp tục làm tăng chi phí sinh hoạt, Đài Loan đang từng bước thu hẹp khoảng cách với Nhật Bản. Nếu xu hướng này kéo dài, bản đồ xuất khẩu lao động của Việt Nam có thể chứng kiến sự thay đổi lớn nhất trong nhiều năm, với Đài Loan vươn lên cạnh tranh trực tiếp vị trí dẫn đầu mà Nhật Bản từng nắm giữ gần như tuyệt đối.

Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn

https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/dong-yen-suy-yeu-va-lam-phat-khien-dai-loan-dan-hap-dan-hon-nhat-ban-voi-lao-dong-xuat-khau-viet-nam-59498.html

#đồng yen
#lạm phát
#Xuất khẩu lao động
#Lao động Việt Nam
#Nhật Bản
#Đài Loan
#thị trường lao động
#Đồng Yen suy yếu
#Lạm phát Nhật Bản
#chi phí sinh hoạt
#Khả năng tích lũy
#Lương cơ bản

Mới nhất

Videos mới nhất