Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Chuyên mục
Media
Báo cáo đặc biệt
Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Khám phá nhiều hơn với tài khoản
Đăng nhập để lưu trữ và dễ dàng truy cập những bài viết bạn yêu thích trên Bloomberg Businessweek Việt Nam.
BBWV - Phí nền tảng tăng, bảo hiểm còn bỏ ngỏ và cuộc đua giành người dùng đang để lại nhiều sức ép cho tài xế và người bán nhỏ.
Hìn ảnh: Hoàng Việt
Tác giả: Thục Hân
23 tháng 06, 2026 lúc 4:40 PM
Tóm tắt bài viết bởi
Khoảng hơn 12 giờ trưa ở một góc ngã tư dưới tán hàng me nhỏ ở gần chợ Bến Thành, TP.HCM, dòng xe máy bắt đầu ken đặc quanh các tòa nhà văn phòng và khu chung cư. Một tài xế giao đồ ăn đứng dưới bóng cây ven đường, mắt liên tục nhìn vào màn hình điện thoại. Một chuyến giao hàng vừa kết thúc. Anh bỏ dở hộp cơm uống vội cho hết ly trà đá khi điện thoại báo một cuốc giao hàng mới hiện lên.
Mỗi ngày của hàng triệu tài xế công nghệ ở Việt Nam diễn ra gần như vậy. Điện thoại rung, nhận chuyến, chạy xe dưới nắng hoặc mưa, giao hàng đúng giờ, cố duy trì điểm đánh giá đủ cao để hệ thống tiếp tục phân phối đơn. Vào cuối ngày, doanh thu hiển thị trên ứng dụng thường cao hơn nhiều so với số tiền thực nhận mang về nhà.
Trong hơn một thập kỷ qua, nền kinh tế nền tảng đã trở thành một phần quen thuộc của đời sống đô thị Việt Nam. Người dùng mở ứng dụng gọi xe để đi làm, đặt đồ ăn giữa giờ nghỉ trưa hoặc mua một món hàng trên sàn thương mại điện tử chỉ bằng vài thao tác chạm màn hình. Hàng triệu giao dịch được hoàn tất mỗi ngày với chi phí thấp hơn trước đây nhờ các chương trình khuyến mãi liên tục xuất hiện.
Ít người nhìn thấy mặt còn lại của mô hình đó. Trong hơn một thập kỷ, cuộc cạnh tranh giữa các nền tảng được xây dựng quanh cùng một chiến lược: giành càng nhiều người dùng càng tốt. Grab, Gojek trước đây, Be rồi Xanh SM ở lĩnh vực gọi xe; Shopee, Lazada và TikTok Shop ở lĩnh vực thương mại điện tử đều trải qua giai đoạn tăng trưởng bằng các chương trình trợ giá quy mô lớn. Người dùng nhận được mã giảm giá, miễn phí vận chuyển và hoàn tiền. Tài xế được thưởng thêm để nhận nhiều chuyến hơn. Người bán được hỗ trợ chi phí nhằm kéo hàng hóa lên sàn.
Mô hình này từng mang lại kết quả rõ ràng. Người tiêu dùng được hưởng lợi từ dịch vụ rẻ hơn và thuận tiện hơn. Các hộ kinh doanh nhỏ có thêm một kênh bán hàng mới. Nhiều người lần đầu tìm được cơ hội tạo thu nhập thông qua nền tảng số.
Tuy nhiên, một thị trường khi bước sang giai đoạn trưởng thành sẽ bắt đầu thay đổi. Tốc độ tăng trưởng người dùng không còn duy trì như trước, trong khi các nhà đầu tư bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến khả năng tạo lợi nhuận. Chi phí của cuộc đua giành thị phần vì thế cũng chuyển hướng.
Nhiều tài xế công nghệ phản ánh rằng tỷ lệ khấu trừ thực tế từ mỗi cuốc xe hoặc đơn hàng ngày càng tăng nếu cộng thêm các loại phí dịch vụ và chi phí liên quan. Trong một số trường hợp, tỷ lệ này được phản ánh ở mức khoảng 30-35%. Bức tranh trên các sàn thương mại điện tử cũng có nét tương đồng. Nhiều người bán cho biết tổng chi phí phải trả có thể lên gần 40% giá trị đơn hàng nếu cộng các khoản hoa hồng, phí vận hành, quảng cáo nội sàn, chi phí hiển thị, hỗ trợ khuyến mãi và logistics.
Các con số thực tế khác nhau giữa từng nền tảng và từng ngành hàng, song phản ánh về áp lực chi phí xuất hiện ngày càng nhiều trong vài năm gần đây. Chị Hồng, một chủ cửa hàng bán mỹ phẩm thủ công tại TP.HCM, chia sẻ với Bloomberg Bussinessweek Vietnam rằng doanh thu trên sàn vẫn tăng đều qua từng tháng, nhưng phần lợi nhuận giữ lại ngày càng mỏng và không còn bao nhiêu để tái đầu tư hay nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới. "Để duy trì thứ hạng hiển thị, cửa hàng phải chi thêm cho quảng cáo. Muốn giữ doanh số, họ phải tham gia các chương trình giảm giá. Mỗi đơn hàng phát sinh thêm một khoản phí mới," chị Hồng nói.
Phần lớn người dùng nhìn thấy giá bán cuối cùng thấp hơn. Phần lớn người bán lại nhìn thấy phần doanh thu thực nhận thấp hơn. Đối với tài xế công nghệ, áp lực xuất hiện theo một cách khác. Một tài xế xe ôm công nghệ chạy 8-10 tiếng mỗi ngày có thể tạo ra doanh thu vài trăm ngàn đồng, nhưng sau khi trừ phí nền tảng, xăng xe, khấu hao phương tiện và chi phí điện thoại, khoản tiền còn lại chẳng còn bao nhiêu.
Điều đáng chú ý là lực lượng lao động này đang nằm trong một khoảng trống chính sách khá lớn. Tuần này, Bộ Nội vụ phản hồi đề xuất từ một số địa phương về việc đưa tài xế công nghệ, shipper và một số lao động nền tảng vào diện bảo hiểm xã hội bắt buộc. Cơ quan này cho rằng các nhóm lao động trên phù hợp hơn với cơ chế bảo hiểm xã hội tự nguyện do có tính linh hoạt và đang được Nhà nước hỗ trợ.
Về mặt kỹ thuật, cách tiếp cận này có cơ sở nhất định. Thu nhập của tài xế công nghệ biến động theo ngày làm việc, theo số giờ hoạt động hoặc theo mùa vụ. Họ khác với mô hình lao động truyền thống có mức lương cố định hàng tháng. Tuy nhiên, điều đó cũng tạo ra một nghịch lý khá rõ ràng. Các tài xế tạo ra doanh thu hàng ngày cho nền tảng nhưng phần lớn trách nhiệm an sinh vẫn nằm ở phía cá nhân. Một tai nạn giao thông, một chấn thương kéo dài hoặc một vấn đề sức khỏe phát sinh có thể khiến nguồn thu nhập biến mất gần như ngay lập tức.
Đây là một thực tế đang diễn ra mỗi ngày trên đường phố. Một tài xế giao hàng chạy xuyên qua dòng xe đông đúc giữa giờ cao điểm mang theo rủi ro nghề nghiệp cao hơn nhiều ngành khác. Nhưng phần lớn họ vẫn được xếp vào nhóm lao động tự do hoặc đối tác hợp tác kinh doanh.
Trong khi Việt Nam còn đang tranh luận về phạm vi bảo hiểm xã hội, một số nước trong khu vực đã bắt đầu dịch chuyển chính sách. Indonesia gần đây đưa ra quyết định gây chú ý khi yêu cầu các nền tảng gọi xe giảm mức chiết khấu thu từ tài xế xuống dưới 10%, thấp hơn nhiều so với mức phổ biến trước đó quanh 20%. Một số trường hợp thậm chí được đưa về khoảng 8%. Chính phủ Indonesia đồng thời yêu cầu bổ sung các cơ chế bảo hiểm tai nạn và chăm sóc sức khỏe đối với lực lượng lao động nền tảng.
Quyết định này xuất hiện sau nhiều năm tài xế phản ánh về tỷ lệ khấu trừ ngày càng lớn trên thu nhập thực nhận. Jakarta đặt cược rằng việc cải thiện thu nhập của tài xế sẽ tạo ra hệ sinh thái ổn định hơn về dài hạn. Thái Lan lựa chọn cách tiếp cận mềm hơn. Thay vì áp trần trực tiếp lên tỷ lệ chiết khấu, nước này tập trung vào việc minh bạch hóa cơ cấu phí, tăng trách nhiệm của nền tảng và mở rộng phạm vi bảo hiểm đối với tài xế.
Hai cách tiếp cận khác nhau dẫn tới cùng một kết luận: khi thị trường đạt đến quy mô đủ lớn, việc để nền tảng tự điều chỉnh hoàn toàn bắt đầu bộc lộ những giới hạn nhất định. Tại Việt Nam, cuộc tranh luận hiện nay dường như vẫn chủ yếu xoay quanh câu hỏi người lao động có nên tham gia bảo hiểm bắt buộc hay không.
Có thể còn một câu hỏi khác cần được đặt ra: nền tảng nên chia sẻ trách nhiệm đến đâu. Nếu nền tảng thu phí từ hoạt động của tài xế và người bán hàng, một phần khoản phí đó hoàn toàn có thể được chuyển thành nghĩa vụ an sinh. Một tỷ lệ nhất định trong doanh thu khấu trừ có thể được trích cho quỹ bảo hiểm xã hội hoặc bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp.
Việt Nam cũng có thể cân nhắc một khung trần đối với tổng mức phí nền tảng được phép thu, thay vì chỉ nhìn vào một khoản hoa hồng riêng lẻ. Điều quan trọng nằm ở tổng chi phí thực tế mà tài xế hoặc người bán phải trả. Nếu chỉ giới hạn một loại phí, phần chi phí còn lại có thể được chuyển sang nhiều tên gọi khác nhau.
Trong nhiều năm, cuộc cạnh tranh giữa các nền tảng chủ yếu xoay quanh việc ai đưa ra nhiều mã giảm giá hơn và ai đốt nhiều tiền hơn để giành người dùng. Mô hình đó tạo ra tốc độ tăng trưởng rất nhanh ở giai đoạn đầu. Nhưng một nền kinh tế nền tảng khi đã bước sang giai đoạn trưởng thành có lẽ cần một cách phân chia giá trị khác. Bởi phía sau mỗi chuyến xe giá rẻ, mỗi đơn hàng giảm giá sâu và mỗi chương trình khuyến mãi xuất hiện trên màn hình điện thoại là hàng triệu con người đang duy trì hoạt động của cả hệ thống.
Vấn đề đặt ra lúc này có lẽ không còn nằm ở việc nền tảng phát triển nhanh đến đâu. Câu hỏi lớn hơn là lợi ích của sự phát triển đó đang được phân chia như thế nào, và ai đang trả phần chi phí lớn nhất cho nó.
Kinh tế nền tảng đã mang lại những đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Các nền tảng giúp kết nối cung – cầu một cách hiệu quả, giảm chi phí giao dịch, hỗ trợ tiêu dùng và thúc đẩy thương mại điện tử. Đặc biệt trong giai đoạn hậu COVID-19, mô hình này tạo ra việc làm linh hoạt cho hàng triệu lao động, từ sinh viên, lao động di cư đến những người cần thu nhập phụ. Sự tiện lợi của việc chỉ cần vài cú chạm màn hình đã thay đổi thói quen tiêu dùng đô thị một cách sâu sắc.
Tuy nhiên, khi thị trường chuyển sang giai đoạn trưởng thành, những thách thức nội tại dần trở nên rõ nét. Áp lực tối ưu lợi nhuận khiến các nền tảng điều chỉnh cơ cấu phí theo hướng tăng dần. Tài xế phải chạy nhiều chuyến hơn để bù đắp thu nhập sau khấu trừ. Người bán hàng phải đầu tư mạnh vào quảng cáo nội sàn và khuyến mãi để duy trì khả năng hiển thị. Chuỗi giá trị tạo ra ngày càng nghiêng về phía nền tảng, trong khi rủi ro và chi phí vận hành phần lớn đổ lên vai lao động và hộ kinh doanh nhỏ.
Vấn đề an sinh xã hội càng trở nên cấp thiết. Lao động nền tảng thường làm việc với cường độ cao, chịu rủi ro tai nạn giao thông, thời tiết khắc nghiệt và biến động thu nhập. Việc xếp họ vào nhóm lao động tự do giúp linh hoạt nhưng cũng khiến nhiều người rơi vào tình trạng thiếu bảo vệ khi gặp sự cố sức khỏe hoặc tai nạn. Đây không chỉ là vấn đề cá nhân mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định lâu dài của cả hệ sinh thái số.
Kinh nghiệm từ Indonesia cho thấy việc áp trần chiết khấu và bổ sung bảo hiểm bắt buộc có thể cải thiện thu nhập thực của tài xế, từ đó duy trì lực lượng lao động ổn định. Thái Lan lại ưu tiên minh bạch hóa thông tin phí và mở rộng trách nhiệm của nền tảng. Cả hai quốc gia đều nhận ra rằng khi quy mô thị trường đã lớn, cần có sự can thiệp phù hợp từ phía nhà nước để cân bằng lợi ích.
Tại Việt Nam, cần xây dựng khung chính sách toàn diện hơn. Bên cạnh việc khuyến khích tham gia bảo hiểm tự nguyện, có thể xem xét các cơ chế bắt buộc một phần trách nhiệm từ phía nền tảng, chẳng hạn trích một tỷ lệ nhất định từ khoản phí thu được để đóng góp vào quỹ an sinh chung. Đồng thời, việc thiết lập khung trần tổng chi phí thực tế sẽ giúp ngăn chặn tình trạng chuyển chi phí sang các hình thức khác nhau. Những giải pháp này cần được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng, tham vấn ý kiến các bên liên quan để đảm bảo tính khả thi và tránh làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư.
Một nền kinh tế số lành mạnh đòi hỏi sự tham gia trách nhiệm của tất cả các bên. Nền tảng cần tiếp tục đầu tư công nghệ, cải thiện thuật toán phân phối đơn hàng và hỗ trợ lao động tốt hơn. Lao động nền tảng có thể chủ động nâng cao kỹ năng, cải thiện thái độ phục vụ và tham gia các hình thức bảo hiểm phù hợp. Người tiêu dùng cũng cần sẵn sàng chấp nhận mức giá phản ánh đúng chi phí bền vững thay vì chỉ chạy theo khuyến mãi ngắn hạn.
Cuối cùng, câu chuyện về nền tảng số không chỉ là câu chuyện về công nghệ và tăng trưởng. Đó là câu chuyện về cách xã hội phân bổ giá trị mà hàng triệu con người đã góp sức tạo ra. Việt Nam đang có cơ hội định hình một mô hình kinh tế nền tảng công bằng và bền vững hơn. Việc làm rõ trách nhiệm của các bên và xây dựng chính sách phù hợp sẽ quyết định liệu mô hình này có thực sự mang lại lợi ích lâu dài cho toàn xã hội hay không.
Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn
https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/cuoc-dua-tro-gia-tren-cac-nen-tang-so-va-dau-la-gioi-han-an-sinh-cho-nguoi-lao-dong-1-58785.html
Tặng bài viết
Đối với thành viên đã trả phí, bạn có 5 bài viết mỗi tháng để gửi tặng. Người nhận quà tặng có thể đọc bài viết đầy đủ miễn phí và không cần đăng ký gói sản phẩm.
Bạn còn 5 bài viết có thể tặng
Liên kết quà tặng có giá trị trong vòng 7 ngày.
BÀI LIÊN QUAN