Không có bằng chứng Việt Nam trung chuyển hàng Trung Quốc để né thuế, nghiên cứu nói

BBWV - Xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ tăng mạnh cùng nhập khẩu đầu vào từ Trung Quốc, nhưng dữ liệu thương mại chưa đủ để kết luận có hành vi trung chuyển né thuế, một nghiên cứu mới nhấn mạnh.

Hình ảnh: Gemadept

Hình ảnh: Gemadept

Tác giả: Thường Quân

21 tháng 08, 2026 lúc 3:05 PM

Tóm tắt bài viết bởi

logo
  • Nghiên cứu của Tiến sĩ Anthony W. D. Anastasi cho thấy Việt Nam đang trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng Mỹ-Trung mà không có bằng chứng né thuế.
  • Tỉ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tăng từ 15,8% năm 2015 lên 26,1% năm 2023, trong khi tỉ trọng hàng trung gian nhập từ Trung Quốc tăng từ 30,1% lên 34,1%.
  • Phân tích 60 ngành HS2 cho thấy tỉ trọng xuất khẩu sang Mỹ tăng lên 17,3%, đồng thời tỉ trọng đầu vào từ Trung Quốc tăng lên 31,6% trong giai đoạn 2021-2023.
  • Mối liên hệ này phản ánh chiến lược "China+1" khi doanh nghiệp đa dạng hóa sản xuất sang Việt Nam nhưng vẫn duy trì nguồn cung linh kiện, nguyên liệu từ Trung Quốc.
  • Để đạt lợi ích dài hạn, Việt Nam cần nâng cao tỉ lệ giá trị gia tăng trong nước, tránh việc chỉ dừng lại ở công đoạn lắp ráp linh kiện nhập khẩu.

Trong hơn nửa thập kỷ kể từ khi Mỹ-Trung bước vào cuộc chiến thương mại năm 2018, Washington luôn đặt vấn đề liệu hàng hóa Trung Quốc có được đưa qua Việt Nam để tránh thuế Mỹ hay không.

Tuần trước, Bloomberg đưa tin nhân viên hải quan và biên giới Mỹ đã đến kiểm tra một số nhà máy tại Việt Nam sản xuất hàng xuất khẩu sang Mỹ. Các cơ quan liên bang Mỹ không bình luận về hoạt động này. Tuy nhiên, số liệu thương mại mới nhất cho thấy quan hệ giữa Việt Nam, Trung Quốc và thị trường Mỹ phức tạp hơn một câu chuyện đơn giản về né thuế.

Phân tích của tiến sĩ Anthony W. D. Anastasi, giảng viên kinh tế tại Sino British College thuộc Đại học Khoa học và Công nghệ Thượng Hải, đăng trên Substack China Political Economy, cho thấy Việt Nam đang xuất khẩu ngày càng nhiều sang Mỹ, đồng thời nhập thêm các loại linh kiện, nguyên liệu và bán thành phẩm từ Trung Quốc.

Đây chưa phải bằng chứng về chuyển tải bất hợp pháp. Số liệu lại cho thấy một thực tế khác: Việt Nam đang trở thành một mắt xích ngày càng quan trọng trong chuỗi cung ứng phục vụ thị trường Mỹ, trong khi quan hệ sản xuất với Trung Quốc vẫn mở rộng.

Theo số liệu có trọng số đối với các ngành hàng có kim ngạch thương mại lớn, tỉ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tăng từ khoảng 15,8% năm 2015 lên 26,1% năm 2023. Cùng thời gian, tỉ trọng hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ giảm.

Nhưng Việt Nam không đơn giản thay thế Trung Quốc. Tỉ trọng hàng trung gian mà Việt Nam nhập từ Trung Quốc cũng tăng, từ 30,1% lên 34,1%. Điều này cho thấy các nhà sản xuất Việt Nam đang sử dụng nhiều hơn linh kiện, nguyên liệu và bán thành phẩm Trung Quốc trong quá trình sản xuất hàng xuất khẩu.

Xu hướng này trở nên rõ hơn từ sau năm 2018 và đặc biệt sau đại dịch. Khi tỉ trọng xuất khẩu sang Mỹ tăng, tỉ trọng đầu vào từ Trung Quốc cũng tăng theo.

chart 1-1

Phân tích 60 ngành HS2 có kim ngạch lớn cho thấy từ giai đoạn 2015 2017 đến 2021 2023, tỉ trọng xuất khẩu sang Mỹ tăng trung bình 4,8 điểm phần trăm, từ 12,5% lên 17,3%. Trong cùng thời gian, tỉ trọng đầu vào trung gian từ Trung Quốc tăng 7,4 điểm phần trăm, từ 24,1% lên 31,6%.

Mối liên hệ này thể hiện khá rõ ở cấp ngành. Những ngành tăng mạnh xuất khẩu sang Mỹ thường cũng là những ngành tăng sử dụng đầu vào từ Trung Quốc. Hệ số tương quan được Anastasi tính toán ở mức khoảng 0,35. Kết quả hồi quy cho thấy mỗi khi tỉ trọng xuất khẩu sang Mỹ tăng thêm 1 điểm phần trăm, tỉ trọng đầu vào từ Trung Quốc tăng khoảng 0,44 điểm phần trăm. Kết quả vẫn tương tự khi mô hình kiểm soát hiệu ứng cố định theo ngành và năm.

Xu hướng tập trung chủ yếu ở hàng trung gian, trong khi mối liên hệ kém rõ hơn ở hàng tư bản và hàng tiêu dùng cuối cùng. Các ngành như sản phẩm kim loại, máy móc điện, nội thất và máy móc đều ghi nhận mức tăng đáng kể ở cả xuất khẩu sang Mỹ và sử dụng đầu vào Trung Quốc.

chart 2-1

Những con số này cần được đọc thận trọng. Dữ liệu thương mại ở cấp ngành không thể cho biết một sản phẩm cụ thể được sản xuất tại Việt Nam theo cách nào, cũng không thể xác định phần giá trị gia tăng thực sự tạo ra tại Việt Nam.

Một nhà máy Việt Nam có thể nhập linh kiện, nguyên liệu từ Trung Quốc rồi thực hiện gia công, lắp ráp hoặc chế biến với giá trị gia tăng đáng kể trước khi xuất khẩu sang Mỹ. Nếu quá trình sản xuất đủ để hàng hóa đáp ứng quy định về xuất xứ, đây là hoạt động thương mại hợp pháp.

Một khả năng khác là hàng gần như hoàn chỉnh từ Trung Quốc được đưa sang Việt Nam, chỉ trải qua những công đoạn nhỏ như đóng gói, dán nhãn hoặc gia công tối thiểu rồi xuất sang Mỹ. Nếu nhằm thay đổi xuất xứ để tránh thuế, đây là hành vi chuyển tải bất hợp pháp.

Số liệu tổng hợp hiện không đủ để phân biệt hai trường hợp này.

chart 3-1

Điều mà dữ liệu cho thấy rõ hơn là chuỗi cung ứng Trung Quốc Việt Nam đang gắn kết chặt hơn trong những ngành hướng mạnh vào thị trường Mỹ. Xu hướng này phù hợp với chiến lược “China+1”, khi doanh nghiệp phân bổ một phần sản xuất sang các quốc gia khác nhưng vẫn duy trì nguồn cung linh kiện và nguyên liệu từ Trung Quốc.

Cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung từ năm 2018 đã thúc đẩy quá trình này. Việt Nam có lợi thế về vị trí địa lý, chi phí sản xuất và mạng lưới các hiệp định thương mại tự do, qua đó trở thành một trong những điểm đến được doanh nghiệp lựa chọn khi đa dạng hóa sản xuất.

Kim ngạch Mỹ nhập khẩu từ Việt Nam đã tăng mạnh trong những năm qua. Vai trò của doanh nghiệp Trung Quốc trong dòng vốn và hoạt động sản xuất tại Việt Nam cũng ngày càng lớn. Tuy nhiên, việc một doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư nhà máy hoặc chuyển một phần sản xuất sang Việt Nam chưa thể được xem là bằng chứng của chuyển tải bất hợp pháp. Trong nhiều trường hợp, đây là sự dịch chuyển sản xuất thực tế, tạo thêm công suất và việc làm tại Việt Nam.

Ranh giới giữa hai trường hợp chỉ có thể xác định qua hồ sơ của từng doanh nghiệp và từng lô hàng. Cơ quan chức năng cần kiểm tra nguồn gốc nguyên liệu, công đoạn sản xuất, mức độ gia công, hồ sơ hải quan và quyền sở hữu thực tế của hàng hóa. Đây cũng là lý do các hoạt động kiểm tra của Mỹ tại Việt Nam có ý nghĩa, trong khi chưa có kết luận công khai cho thấy một mạng lưới chuyển tải né thuế quy mô lớn.

Với Việt Nam, vấn đề đáng chú ý hơn nằm ở giá trị thực sự được tạo ra trong quá trình dịch chuyển sản xuất này. Xuất khẩu sang Mỹ tăng nhanh và dòng vốn đầu tư nước ngoài mở rộng là những kết quả đáng kể, nhưng lợi ích dài hạn sẽ phụ thuộc vào khả năng nâng tỉ lệ giá trị gia tăng trong nước.

Các ngành như điện tử, máy móc, kim loại và nội thất đang cùng lúc tăng xuất khẩu sang Mỹ và sử dụng nhiều hơn đầu vào từ Trung Quốc. Đây là những lĩnh vực cần được theo dõi về mức độ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực.

Nếu nhà máy tại Việt Nam chủ yếu lắp ráp linh kiện nhập khẩu, phần lớn giá trị của sản phẩm vẫn nằm ở thiết kế, công nghệ, linh kiện và mạng lưới cung ứng bên ngoài. Việt Nam có thể tăng mạnh kim ngạch xuất khẩu nhưng phần giá trị giữ lại trong nền kinh tế vẫn hạn chế.

Ngược lại, nếu các khoản đầu tư mới kéo theo chuyển giao công nghệ, đào tạo lao động, phát triển nhà cung ứng trong nước và từng bước mở rộng nguồn cung ngoài Trung Quốc, Việt Nam sẽ có cơ hội nâng vị trí trong chuỗi giá trị.

Phân tích của Anastasi cho thấy một mô hình thương mại đáng chú ý: những ngành của Việt Nam ngày càng hướng sang Mỹ cũng đang sử dụng nhiều hơn đầu vào trung gian từ Trung Quốc. Mối liên hệ này có ý nghĩa thống kê và phù hợp với sự tái cấu trúc chuỗi cung ứng sau chiến tranh thương mại và đại dịch.

Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn

https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/viet-nam-thanh-mat-xich-moi-trong-chuoi-cung-ung-my-trung-nhung-khongco-bang-chung-trung-chuyen-ne-thue-1-59886.html

#Việt Nam
#Mỹ
#Trung Quốc
#chuỗi cung ứng
#Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung
#Xuất khẩu Việt Nam
#Nhập khẩu Trung Quốc
#Né thuế
#Chuyển tải bất hợp pháp
#Giá trị gia tăng Việt Nam

Mới nhất

Videos mới nhất