Mô hình phát triển kinh tế Việt Nam từ kinh nghiệm Trung Quốc và Hàn Quốc

BBWV - Việt Nam bước vào "kỷ nguyên vươn mình" với nhiều lựa chọn mô hình phát triển, từ FDI đến nội lực, đòi hỏi chiến lược cân bằng để tăng trưởng bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Một tàu container rời cảng tại Hải Phòng, Việt Nam, vào ngày 31 tháng 3 năm 2026.

Một tàu container rời cảng tại Hải Phòng, Việt Nam, vào ngày 31 tháng 3 năm 2026.

Tác giả: Nguyễn Tú Anh*

03 tháng 04, 2026 lúc 8:00 PM

Trong lịch sử phát triển châu Á, hiếm có quốc gia nào lại đứng ở vị trí địa chính trị và văn hóa đặc thù như Việt Nam: tiếp giáp với một siêu cường đang trỗi dậy, chia sẻ thể chế tương đồng với người láng giềng phương Bắc nhưng lại ngưỡng mộ con đường cất cánh của Hàn Quốc ở bờ biển phía đông bán đảo Triều Tiên. Bài viết này cố gắng nhìn thẳng vào những điểm giống và khác biệt giữa ba mô hình phát triển để từ đó hiểu rõ hơn những lựa chọn chiến lược mà Việt Nam đang đối mặt, thay vì đặt ra một lộ trình cụ thể.

Lý thuyết “đàn ngỗng bay” (flying geese paradigm) của Akamatsu từ lâu đã được dùng để giải thích làn sóng công nghiệp hóa kế tiếp nhau ở châu Á. Nhật Bản bay đầu đàn, kéo theo Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Hong Kong. Đến lượt mình, những con rồng nhỏ đó chuyển giao công nghệ và vốn xuống thế hệ kế tiếp, trong đó có Việt Nam. Khác biệt là ở chỗ: Việt Nam tiến hành đổi mới năm 1986, tức là muộn hơn Trung Quốc khoảng tám năm, và trong suốt quá trình chuyển đổi đó, Hà Nội vừa học từ Bắc Kinh vừa hướng sang Seoul như hai nguồn tham chiếu song song. Đây là xuất phát điểm để hiểu tại sao mô hình tăng trưởng của Việt Nam mang hình hài như hiện nay.

Thể chế và nền tảng văn hóa: Chung gốc rễ, khác cách vận hành

Ba nước Việt Nam, Trung Quốc và Hàn Quốc thời kỳ Park Chung-hee cùng chia sẻ nền tảng tư tưởng Nho giáo với đặc trưng đề cao tôn ti trật tự, lợi ích tập thể và truyền thống hiếu học. Đây là điều kiện xã hội thuận lợi cho chiến lược phát triển dựa vào đầu tư cao và lực lượng lao động kỷ luật. Đồng thời, cả ba đều trải qua thời kỳ quyền lực tập trung cao độ trong giai đoạn cất cánh kinh tế, tạo điều kiện để chính phủ hoạch định và thực thi kế hoạch dài hạn liên tục, không bị gián đoạn bởi các chu kỳ bầu cử.

Tuy nhiên, cách thức Đảng cầm quyền vận hành kinh tế lại có sự phân kỳ đáng kể. Trung Quốc, thông qua học thuyết "ba đại diện" của Giang Trạch Dân, định vị Đảng Cộng sản là lực lượng tiên phong đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất. Hệ quả thực tiễn của triết lý đó là Bắc Kinh cho phép tuyển dụng người quản lý doanh nghiệp nhà nước từ bất kỳ nơi nào trên thế giới, miễn là người đó đủ năng lực hoàn thành mục tiêu kinh tế. Đến năm 2018, hơn 92% doanh nghiệp lớn của Trung Quốc đã có tổ chức đảng bên trong, tạo ra một kênh kiểm soát ngầm mà không cản trở quyết định kinh tế thuần túy.

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam lại nhấn mạnh vai trò của Đảng là "đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc". Trọng tâm phục vụ và bảo vệ này, khi đưa vào thực tế, có xu hướng đặt tiêu chuẩn chính trị lên trước tiêu chuẩn chuyên môn trong việc lựa chọn lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước. Vào năm 2020, tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân có tổ chức đảng tại Việt Nam chỉ ở mức 0,54%, một khoảng cách rất xa so với Trung Quốc. Đây là điểm khác biệt thể chế có hệ quả dài hạn đối với năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp.

Mô hình tăng trưởng: Cùng hướng ra ngoài nhưng khác mức độ tự chủ

Cả ba nước đều theo đuổi mô hình hướng ngoại (outward-looking), khai thác lợi thế so sánh để thúc đẩy xuất khẩu, thu ngoại tệ và nhập khẩu công nghệ. Cả ba đều áp dụng tăng trưởng bất cân xứng ở giai đoạn đầu, tập trung nguồn lực vào một vài cực đô thị lớn trước khi lan tỏa ra các vùng khác.

Sự khác biệt nằm ở chiều sâu tự chủ công nghệ. Hàn Quốc thời Park Chung-hee không chào đón vốn FDI mà chọn con đường vay nợ nước ngoài, ép các tập đoàn Chaebol phải cạnh tranh trực tiếp trên thị trường xuất khẩu rồi dùng nguồn thu đó tài trợ cho nghiên cứu và phát triển (R&D). Nhà nước can thiệp sâu vào tín hiệu thị trường nhưng can thiệp theo hướng buộc doanh nghiệp phải giỏi thật sự ở thị trường quốc tế thay vì được bảo hộ mãi trong sân nhà.

Trung Quốc kết hợp cả hai hướng: thu hút FDI mạnh mẽ đồng thời dùng thị trường nội địa khổng lồ như đòn bẩy để buộc nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ. Doanh nghiệp nội địa Trung Quốc được tôi luyện qua cạnh tranh khốc liệt trên sân nhà trước khi vươn ra toàn cầu. Đến thập niên 2010, nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đã đủ sức cạnh tranh quốc tế từ viễn thông đến xe điện.

Việt Nam chọn con đường phụ thuộc nhiều hơn vào FDI, giải quyết được bài toán thiếu vốn và tạo việc làm nhanh. Song vì năng lực mặc cả còn hạn chế và bị ràng buộc bởi các cam kết quốc tế, Việt Nam nhận được rất ít chuyển giao công nghệ thực chất. Đến nay, khối FDI chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu chế biến chế tạo nhưng chuỗi liên kết với doanh nghiệp nội địa còn mỏng, tạo ra một nghịch lý: tỷ lệ xuất khẩu trên GDP rất cao nhưng năng lực công nghệ nội sinh tích lũy được vẫn còn thấp.

Doanh nghiệp dẫn dắt: Thiếu một “đội hình chủ công”

Nhìn vào lịch sử, Hàn Quốc có Chaebol, Nhật Bản có Zaibatsu, Trung Quốc có các đại tập đoàn quốc doanh và tư nhân được nuôi dưỡng qua thị trường nội địa rộng lớn. Còn Việt Nam thì sao? Doanh nghiệp nhà nước Việt Nam nhìn chung không chịu áp lực cạnh tranh xuất khẩu nên năng lực cạnh tranh chậm được cải thiện. Doanh nghiệp tư nhân lớn phát triển chủ yếu nhờ khai thác thị trường nội địa và các mối quan hệ thân hữu với quan chức nhà nước hơn là nhờ năng lực cạnh tranh tích lũy qua thị trường xuất khẩu. Phải đến Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2025, doanh nghiệp tư nhân mới chính thức được tham gia mua sắm và đầu tư của Chính phủ, một bước tiến quan trọng nhưng vẫn còn khá muộn so với những gì Hàn Quốc hay Trung Quốc đã làm từ rất sớm.

Chi tiêu R&D là thước đo phản ánh rõ khoảng cách này. Đến năm 2022, tỷ lệ R&D trên GDP của Việt Nam vẫn thấp hơn Trung Quốc năm 1996 và chỉ bằng khoảng 1/5 so với Hàn Quốc vào cùng mốc thời gian. Đây là hạn chế cấu trúc khó giải quyết nhanh.

Tăng trưởng nhanh và rủi ro bất bình đẳng

Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát đi tín hiệu rõ ràng về ưu tiên tăng trưởng nhanh. Trong báo cáo chính trị, cụm từ "phát triển nhanh" xuất hiện 15 lần trong khi "công bằng xã hội" chỉ được nhắc 4 lần. Đây là một lựa chọn chiến lược có cơ sở: bài học từ Trung Quốc và Hàn Quốc đều cho thấy giai đoạn cất cánh cần ưu tiên tích lũy và đầu tư trước, xử lý phân phối sau.

Tuy nhiên, rủi ro nằm ở chỗ Việt Nam bước vào giai đoạn này với hệ số Gini đã ở mức 36,1% vào năm 2022, cao hơn Hàn Quốc hiện nay và chỉ tương đương Trung Quốc, trong khi Trung Quốc đang tiêu tốn rất nhiều nguồn lực để kéo hệ số này xuống sau khi đã để nó vọt lên đỉnh 43,7% vào năm 2010. Nghiên cứu của IMF (Ostry và cộng sự, 2014) chỉ ra rằng khi hệ số Gini tiến gần ngưỡng 40%, các chu kỳ tăng trưởng trở nên dễ tổn thương và thường kết thúc đột ngột vì thiếu hụt đầu tư vào vốn nhân lực từ nhóm thu nhập thấp. Việt Nam chưa ở mức nguy hiểm nhưng khoảng đệm không còn nhiều, đặc biệt khi mô hình tăng trưởng bất cân xứng tiếp tục gia tăng khoảng cách giữa các cực đô thị và phần còn lại.

Công nghệ số: Biến số có thể thay đổi cuộc chơi

Đây là điểm mà Việt Nam có cơ hội tạo ra sự khác biệt thực sự so với lộ trình các thế hệ đi trước. Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIV nhắc đến các thuật ngữ liên quan đến công nghệ số tới 68 lần, "công nghệ" 87 lần. Sự dịch chuyển ngôn ngữ chính sách này không chỉ là biểu tượng: Việt Nam hiện có 41 trung tâm dữ liệu thương mại, đang đầu tư hàng tỷ đô la vào hạ tầng số mới. FPT đã xuất khẩu chip quản lý nguồn sang Nhật Bản vào năm 2025, trong khi Viettel đang đầu tư vào nhà máy sản xuất chip bán dẫn đầu tiên trong nước.

Nền kinh tế số có đặc tính khác hẳn sản xuất truyền thống: chi phí biên gần bằng không, tài sản vô hình như phần mềm và dữ liệu có thể tái sử dụng không giới hạn, lợi thế kinh tế theo quy mô thể hiện rõ nét hơn. Một doanh nghiệp Việt Nam xây dựng được năng lực số mạnh hoàn toàn có thể mở rộng thị phần toàn cầu nhanh hơn nhiều so với thế hệ doanh nghiệp công nghiệp đi trước.

Lựa chọn không thể né tránh

Nhìn lại hành trình ba nước, Việt Nam đang ở ngã tư của nhiều lựa chọn chiến lược cùng lúc: tiếp tục dựa vào FDI hay đầu tư mạnh hơn vào năng lực nội sinh; ưu tiên doanh nghiệp nhà nước hay tạo sân chơi thực sự bình đẳng cho tư nhân; chấp nhận bất bình đẳng gia tăng trong ngắn hạn hay bắt đầu xử lý cấu trúc phân phối trước khi quá muộn.

Điểm sáng là Việt Nam không phải lựa chọn mù quáng. Cả Hàn Quốc lẫn Trung Quốc đã trải qua những ngã tư tương tự và để lại đủ bài học cả thành công lẫn thất bại. Điều Việt Nam cần là sự tỉnh táo để nhận ra mình đang ở đâu trong hành trình đó, dũng cảm để từ chối sao chép những gì không phù hợp với quy mô và điều kiện đặc thù của mình, và đủ kiên nhẫn để xây dựng những năng lực cạnh tranh thực chất thay vì chạy theo những chỉ số tăng trưởng bề mặt ngắn hạn.


Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh: Giám đốc Nghiên cứu Chính sách, VinUniversity. Ông từng công tác ở các trường đại học, viện nghiên cứu, cũng như đảm nhận nhiều vị trí quan trọng ở các cơ quan nhà nước như nguyên Vụ phó Vụ Chính sách Tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước; nguyên Giám đốc Trung tâm Thông tin, Phân tích và Dự báo kinh tế - Ban Kinh tế Trung ương (nay là Ban Chính sách Chiến lược Trung ương).

Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn

https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/viet-nam-nen-chon-lua-mo-hinh-nao-trong-ky-nguyen-vuon-minh-57092.html

#Việt Nam
#Trung Quốc
#Hàn Quốc
#Nhật Bản
#Mô hình phát triển
#Lựa chọn chiến lược Việt Nam
#Đàn ngỗng bay
#Đổi mới 1986
#Thể chế kinh tế
#Nền tảng Nho giáo

Gói đăng ký