Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Chuyên mục
Media
Báo cáo đặc biệt
Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Khám phá nhiều hơn với tài khoản
Đăng nhập để lưu trữ và dễ dàng truy cập những bài viết bạn yêu thích trên Bloomberg Businessweek Việt Nam.
BBWV - Tái thiết chuỗi cung ứng sau khi Bắc Kinh cấm cửa, đây là bài học từ doanh nghiệp sò điệp về cơ hội lẫn rủi ro của việc không lệ thuộc thị trường Trung Quốc.
Chế biến sò điệp ở Monbetsu, Nhật, ngày 6.8 Ảnh: Noriko Hayashi/Bloomberg
Tác giả: Yoshiaki Nohara
06 tháng 09, 2026 lúc 6:30 AM
Tóm tắt bài viết bởi
Một chiếc xe tải chất đầy sò điệp rồ máy chạy qua Monbetsu, thị trấn cảng nhỏ của Nhật Bản ở phía đông bắc Hokkaido. Những chiếc vỏ va vào nhau lách cách, trong khi phần thịt trong suốt bên trong vẫn đang ngọ nguậy do vừa được đánh bắt tươi sống từ biển Okhotsk. Thêm nhiều chiếc xe tải nối đuôi theo sau. Mùa thu hoạch đang ở giai đoạn cao điểm.
Xe nâng di chuyển hết thùng hàng này đến thùng hàng khác vào các nhà máy, nơi những hàng dài công nhân tách vỏ sò điệp từ sáng đến tối, sáu ngày một tuần. Mùi nước biển tràn ngập không khí cùng tiếng hải âu kêu loanh quanh ngoài trời, sà xuống tranh giành những mẩu vụn. Kazuya Yamazaki, chủ tịch công ty chế biến Maruuroko Sanwa Suisan Co., cho biết việc kinh doanh vẫn diễn ra rất tốt. “Chúng tôi sẽ không quay lại phương thức cũ,” ông Yamazaki nói. “Không bao giờ.”
Phương thức cũ mà ông nhắc tới là việc phụ thuộc nặng nề vào Trung Quốc. Vào năm 2023, Bắc Kinh, bên mua thủy sản nước ngoài lớn nhất của Nhật Bản lúc đó, đột ngột cấm nhập khẩu với lý do lo ngại về việc xả nước thải đã qua xử lý từ nhà máy điện hạt nhân Fukushima bị hư hại. Ngành sò điệp Nhật Bản buộc phải tái thiết, tìm kiếm các trung tâm chế biến và khách hàng mới, đồng thời giảm bớt sự hiện diện dài hạn tại Trung Quốc do lo ngại quốc gia này sẵn sàng sử dụng thương mại làm vũ khí ngoại giao.
Chiến lược này đã phát huy hiệu quả. Kim ngạch xuất khẩu sò điệp của Nhật Bản đạt 90,6 tỉ yen (568,6 triệu USD) vào năm ngoái, tiệm cận mức trước lệnh cấm, dấu hiệu cho thấy sự thành công của ngành trong việc tái thiết chuỗi cung ứng và tìm kiếm thị trường mới. Tuy nhiên, sự phục hồi này cũng minh họa cho những phức tạp của việc giảm thiểu rủi ro từ nền kinh tế lớn thứ hai thế giới: Thoát khỏi một sự phụ thuộc này có thể đồng nghĩa với việc gánh chịu những chi phí và điểm yếu mới ở nơi khác. Các doanh nghiệp xuất khẩu hiện phải đối mặt với thuế quan của Mỹ, trong khi tình trạng thiếu hụt lao động mãn tính của Nhật Bản khiến ngành này phụ thuộc vào công nhân nước ngoài. Thị trường nội địa lại là nơi trú ẩn không chắc chắn khi dân số sụt giảm và người tiêu dùng e ngại trước mức giá gia tăng.

Đó là ngày 24 tháng 8 năm 2023, giữa đỉnh điểm của mùa thu hoạch, khi Trung Quốc áp đặt lệnh cấm thủy sản có hiệu lực ngay lập tức. Vào khoảng giữa trưa tại Sanwa Suisan, nhân viên đang chất những thùng sò điệp đông lạnh lên các container vận chuyển sang Trung Quốc thì tin tức đến tay ông Yamazaki. Việc chất hàng dừng lại và các container đang trên đường đi phải quay đầu.
Trung Quốc chiếm 22,5% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Nhật Bản vào năm 2022. Trong đó sò điệp là mặt hàng lớn nhất, với 51% sò điệp xuất khẩu được xuất sang Trung Quốc, so với 12,3% sang Đài Loan và 8,6% sang Mỹ. Trung Quốc không chỉ là người tiêu dùng. Đây còn là một trung tâm chế biến lớn, nơi sò điệp được tách vỏ, cắt tỉa, phân loại, cấp đông và đóng gói trước khi chuyển sang các thị trường khác, bao gồm cả Mỹ.
Việt Nam, với ngành chế biến thủy sản đã hình thành vững chắc, đã nhanh chóng tham gia vào chuỗi cung ứng. Đến năm 2025, Việt Nam chiếm 22% kim ngạch xuất khẩu sò điệp của Nhật Bản. Nhật Bản cũng cam kết chi 21 tỉ yen để củng cố năng lực chế biến trong nước và tìm kiếm người mua mới, đồng thời sò điệp được đưa vào các bữa ăn học đường và lễ hội địa phương. Đại sứ Mỹ khi đó là Rahm Emanuel đã thông báo các đợt thu mua thủy sản của quân đội Mỹ nhằm giúp chống lại “sự ép buộc kinh tế” của Bắc Kinh.
“Chúng tôi đã xoay xở vượt qua bằng cách nào đó,” ông Yamazaki nói. “Đủ mọi thành phần đã vươn tay trợ giúp chúng tôi.”
Nhưng việc đưa thêm hoạt động chế biến trở lại Nhật Bản lại đặt ra một bài toán khác: Tìm đủ nhân lực để thực hiện công việc. Sinh năm 1970 và lớn lên tại Monbetsu, lúc nhỏ ông Yamazaki chơi đùa trên những con phố rải rác vỏ sò điệp vỡ và nhộn nhịp tiếng ầm ầm của các nhà máy. Điều thay đổi qua nhiều năm là diện mạo của các công nhân tại công ty mà cha ông thành lập năm 1982.
Khi đó, phụ nữ Nhật Bản đảm nhận công việc tách vỏ sò điệp cực kỳ vất vả, trong khi chồng của họ đánh bắt cá và làm việc trên các trang trại. Hầu như toàn bộ sò điệp đều được bán tại Nhật Bản. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông Yamazaki rời đến một thành phố lớn hơn, giống như nhiều bạn trẻ Nhật Bản tìm kiếm giáo dục bậc cao và một công việc văn phòng sạch sẽ hơn. Khi người trẻ rời đi, Monbetsu ngày càng tìm đến lực lượng lao động nước ngoài. Người Trung Quốc đến đầu tiên, nhưng số lượng của họ giảm dần khi Trung Quốc trở nên giàu có hơn. Vào thời điểm ông Yamazaki trở về quê nhà 18 năm trước, công nhân đến từ Việt Nam và Indonesia đảm nhận vị trí của lao động Trung Quốc.
Hiện nay, dân số Monbetsu ở mức khoảng 19.000 người, giảm 55% so với mức đỉnh năm 1962. Khoảng 40% cư dân từ 65 tuổi trở lên. Khoảng 40 trong số 100 nhân viên của Sanwa Suisan đến từ Việt Nam và Indonesia. Họ làm việc bên cạnh lao động Nhật, phần lớn là phụ nữ Nhật Bản lớn tuổi đã dành nhiều thập kỷ tách vỏ sò điệp.
Mang hai lớp găng tay, đeo ủng cao su màu trắng, tạp dề chống nước màu xanh đen, khẩu trang và mũ gạc, họ cạy mở vỏ sò trước khi dùng thìa xúc phần cơ khép vỏ và tách phần nội tạng. Vỏ sò được hất lên một băng chuyền hướng ra thùng rác bên ngoài, phần nội tạng sang một băng chuyền khác. Phần thịt màu trắng được thả vào các giỏ màu xanh. Tất cả công đoạn này mất khoảng năm giây cho mỗi con sò điệp. Phần cơ thịt sau đó được rửa sạch, cấp đông và đóng gói trước khi vận chuyển khắp Nhật Bản để làm sashimi hoặc sushi.

Ông Yamazaki cho biết ông đã vượt qua lệnh cấm của Trung Quốc vì luôn duy trì hoạt động chế biến và tập khách hàng địa phương. Bất kể việc bán hàng sang Trung Quốc có lợi nhuận đến đâu, ông vẫn băn khoăn về việc trở nên quá phụ thuộc vào một quốc gia có lịch sử căng thẳng chính trị với Nhật Bản. Trước năm 2023, ông bán khoảng 2.000 tấn sò điệp hằng năm sang Trung Quốc, chiếm chưa đầy 30% hoạt động kinh doanh. “Tôi đã chủ động kiềm chế,” ông nói.
Đối với Kyokuyo, công ty thương mại thủy sản có trụ sở tại Tokyo, sự chuyển hướng này khó khăn hơn. Kể từ đó công ty này xây dựng một nhà máy tự động hóa phần lớn với một công ty Canada tại Hokkaido để chế biến sò điệp địa phương và bán trực tiếp sang Mỹ. “Chúng tôi đã nhìn nhận lại thực tế rằng doanh số của mình đã bị lệch quá mức sang một quốc gia nhất định,” Toshiki Suzuki, quản lý bộ phận thủy sản của Kyokuyo, chia sẻ. Công ty hiện đưa “rủi ro Trung Quốc” vào kế hoạch kinh doanh trung hạn của mình.

Trung Quốc đã dỡ bỏ một phần lệnh cấm vào tháng 6 năm ngoái, cho phép nhập khẩu từ 37 trong số 47 tỉnh thành của Nhật Bản, bao gồm cả Hokkaido. Nhưng đến tháng 11, quốc gia này đã tái áp đặt các hạn chế diện rộng. Mặc dù Bắc Kinh một lần nữa nêu ra những lo ngại về nước thải Fukushima, động thái này được coi rộng rãi là một sự trả đũa sau khi thủ tướng Sanae Takaichi gợi ý rằng lực lượng vũ trang Nhật Bản có thể được triển khai trong trường hợp Trung Quốc tấn công Đài Loan.
Lần này, ngành công nghiệp đã chuẩn bị tốt hơn. Nhờ tái thiết chuỗi cung ứng và tìm kiếm thị trường mới sau lệnh cấm đầu tiên, các doanh nghiệp sò điệp không còn phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc.
Trung Quốc vẫn giữ các phương thức khác để gây áp lực kinh tế lên Nhật Bản. Bắc Kinh đã khuyến cáo du khách Trung Quốc không nên đến thăm quốc gia này và siết chặt kiểm soát xuất khẩu đối với các mặt hàng lưỡng dụng, có cả ứng dụng dân sự và quân sự, dẫn đến việc đóng băng các lô hàng một số loại đất hiếm thiết yếu để sản xuất mọi thứ từ xe điện đến vũ khí.
Những áp lực như vậy chỉ càng củng cố sự tập trung của ông Yamazaki vào khách hàng trong nước. “Nếu chúng tôi kinh doanh tại Nhật Bản, biến động bất thường ít có khả năng xảy ra hơn,” ông nói. “Điều đó giảm bớt những gì chúng tôi không thể kiểm soát.”
Dù vậy, năm 2025 lại mang đến một lời nhắc nhở khác về những rủi ro ở nước ngoài. Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đánh thuế 15% lên hàng hóa Nhật Bản, làm phức tạp thêm sự chuyển dịch xuất khẩu vốn ngày càng phụ thuộc vào người mua Mỹ.

Quay trở lại thị trường nội địa chỉ mang lại một mức độ bảo vệ nhất định. Dân số thu hẹp và già hóa của Nhật Bản khiến các nhà chế biến thủy sản phụ thuộc vào lao động nước ngoài, trong khi nhu cầu ở nước ngoài, được thúc đẩy bởi đồng yen yếu, đang khiến sò điệp ngày càng trở nên đắt đỏ tại quê nhà. Thêm vào đó, sản lượng thu hoạch nhỏ hơn do nhiệt độ nước biển tăng cao, làm giảm lượng sản phẩm dành cho người tiêu dùng trong nước. Trong năm 2025, hộ gia đình trung bình ở Nhật Bản chỉ mua 184 gam sò điệp, giảm 48% so với một năm trước đó và là mức thấp nhất kể từ khi dữ liệu bắt đầu được ghi nhận vào năm 2000.
Akira Hayashi mua sò điệp từ công ty của ông Yamazaki cho nhà hàng của mình ở Monbetsu, nơi những áp-phích chiến dịch bầu cử cũ của bà Takaichi quảng bá một Nhật Bản “mạnh mẽ và thịnh vượng” trái ngược với những thách thức kinh tế của thị trấn. Khi chi phí tăng lên trong năm nay, ông Hayashi đã tăng giá sashimi sò điệp thêm khoảng 30%, lên 950 yen, đợt tăng giá đầu tiên sau nhiều năm. “Tôi muốn chúng rẻ hơn,” người đàn ông 57 tuổi nói. “Đó là món ăn không thể thiếu mà ai cũng muốn thưởng thức.”
Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn
https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/so-diep-nhat-ban-bai-hoc-thoat-khoi-le-thuoc-thi-truong-trung-quoc-60097.html
Tặng bài viết
Đối với thành viên đã trả phí, bạn có 5 bài viết mỗi tháng để gửi tặng. Người nhận quà tặng có thể đọc bài viết đầy đủ miễn phí và không cần đăng ký gói sản phẩm.
Bạn còn 5 bài viết có thể tặng
Liên kết quà tặng có giá trị trong vòng 7 ngày.
BÀI LIÊN QUAN
Mới nhất
Videos mới nhất