Ông Trump đã mang lại điều gì cho Amazon?

BBWV - Một vụ kiện mang tính bước ngoặt về quyền kiểm soát tài xế hợp đồng của Amazon đã thay đổi sau khi ông Trump bổ nhiệm cựu luật sư của hãng vào vị trí then chốt.

Johnathon Ervin đứng bên ngoài kho hàng của Amazon ở Palmdale, California, nơi các tài xế thuộc công ty Battle-Tested Strategies của ông từng giao hàng triệu bưu kiện. Hình ảnh: Stella Kalinina/Bloomberg Businessweek

Tác giả: Josh Eidelson

05 tháng 06, 2026 lúc 9:30 PM

Tóm tắt bài viết bởi

logo
  • Ông Johnathon Ervin, chủ doanh nghiệp Battle-Tested Strategies tại bang California, đã phá sản và kiện Amazon sau khi bị chấm dứt hợp đồng giao hàng vì tranh chấp an toàn lao động năm 2023.
  • Các tài xế của ông Ervin đã gia nhập công đoàn Teamsters năm 2023, châm ngòi cho vụ kiện mang tính bước ngoặt nhằm buộc Amazon thừa nhận vai trò đồng sử dụng lao động.
  • Vào tháng 9 năm 2024, Ủy ban Quan hệ Lao động Quốc gia Mỹ dưới thời Tổng thống Joe Biden đã đệ đơn khiếu nại cáo buộc Amazon kiểm soát chặt chẽ các tài xế.
  • Sau khi nhậm chức năm 2025, Tổng thống Donald Trump bổ nhiệm Bà Crystal Carey, cựu luật sư của Amazon, làm Tổng cố vấn NLRB để thay thế bà Jennifer Abruzzo bị sa thải.
  • Vào tháng 4, NLRB dưới sự lãnh đạo của Bà Carey đã dàn xếp vụ việc, cho phép Amazon bồi thường hai tuần lương nhưng không bị coi là đồng chủ sử dụng lao động.

Khi các cơ quan chức năng đóng cửa những tuyến đường lớn và cao tốc ở Nam California trong đợt bão kỷ lục vào mùa Đông năm 2023, Johnathon Ervin cho rằng các tài xế giao hàng của mình nên ở nhà.

Ervin là chủ sở hữu Battle-Tested Strategies tại thành phố Palmdale, một trong hàng ngàn doanh nghiệp nhỏ mà Amazon đã thuê trong nhiều năm qua để giao hàng. Palmdale nằm ở phía Bắc hạt Los Angeles, khu vực khi đó đang hứng chịu một đợt bão mùa Đông hiếm gặp. Tuyết bao phủ quanh biểu tượng Hollywood. Các dãy núi gần Palmdale nhận cảnh báo bão tuyết đầu tiên trong 34 năm. Nhiều khu vực khác trong hạt cũng được cảnh báo nguy cơ lũ quét.

Các chuyến bay đến sân bay LAX tạm thời bị đình chỉ, bãi biển và công viên đóng cửa, còn chương trình “Magic Happens” tại Disneyland cũng phải hủy bỏ. Tuy nhiên, theo Ervin, quyết định có nên ra đường giữa cơn bão hay không không thuộc về ông. Người quản lý kho hàng địa phương của Amazon đã yêu cầu ông điều tài xế đi giao hàng.

“Tôi đã hỏi: ‘Ông đang nói gì vậy?’” Ervin nhớ lại. Ông là cựu quân nhân Không quân Mỹ từng tham gia Chiến dịch Tự do Iraq (Iraqi Freedom). “Đường sá đều đã bị phong tỏa.”

Ông gửi cho đại diện Amazon những đoạn video quay bằng điện thoại cho thấy các con đường phủ đầy tuyết bị chặn bằng cọc tiêu màu cam, cùng chiếc xe cảnh sát bật đèn tín hiệu đứng canh gác.

“Ông ta nói: ‘Chúng ta vẫn phải cố gắng giao hàng.’” Ervin kể lại. “‘Bộ phận Central Ops yêu cầu phải cố gắng giao hàng.’”

Theo Ervin, người quản lý này từ chối cho ông liên hệ với bất kỳ ai tại Central Ops. Khi ông nhấn mạnh rằng việc đưa tài xế ra đường sẽ khiến họ gặp nguy hiểm, vị đại diện chỉ liên tục lặp lại: “Phải cố gắng giao hàng.”

Ervin, khi đó đang vướng vào hàng loạt mâu thuẫn ngày càng căng thẳng với Amazon, cho biết ông cảm thấy công ty đã đẩy mình vào thế không còn lựa chọn nào khác. Nếu các tài xế không ra đường giữa cơn bão, hợp đồng giữa Battle-Tested Strategies và Amazon, khách hàng duy nhất của doanh nghiệp này, sẽ bị đe dọa.

“Chúng tôi vẫn sẽ điều tài xế của ông đi làm,” người quản lý nói với ông, theo nội dung vụ kiện mà Ervin sau đó nộp lên tòa án bang California.

Cuối cùng, ông cho biết đội ngũ của mình đã cố gắng thực hiện chỉ đạo đó. Vài tháng sau, Amazon vẫn thông báo chấm dứt hợp đồng. Doanh nghiệp của Ervin nhanh chóng phá sản.

“Họ kiểm soát mọi thứ,” ông nói. “Bạn chỉ là một bánh răng trong bộ máy.”

“Bạn chỉ là một bánh răng trong bộ máy mà thôi,” Ervin nói về cuộc sống của một chủ doanh nghiệp DSP (đối tác dịch vụ giao nhận). Hình ảnh: Stella Kalinina/Bloomberg Businessweek
“Bạn chỉ là một bánh răng trong bộ máy mà thôi,” Ervin nói về cuộc sống của một chủ doanh nghiệp DSP (đối tác dịch vụ giao nhận). Hình ảnh: Stella Kalinina/Bloomberg Businessweek

Trả lời các câu hỏi chi tiết từ Bloomberg Businessweek, người phát ngôn Amazon Sam Stephenson cho biết trong một tuyên bố: “Chúng tôi giám sát chặt chẽ hoạt động trên toàn quốc 24 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần nhằm hạn chế các gián đoạn do thời tiết gây ra đối với nhân viên, đối tác và khách hàng.”

Ông cho biết công ty sử dụng một “công cụ hàng đầu do Amazon phát triển” để phát hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan được dự báo trước, xây dựng “kế hoạch rõ ràng” cho các nhà thầu giao hàng nhằm điều chỉnh hoạt động khi cần thiết, đồng thời có thể liên lạc trực tiếp với tài xế để bảo đảm họ có thể tìm nơi trú ẩn hoặc nghỉ ngơi “tùy theo điều kiện thực tế.”

Trong tuyên bố, Amazon cũng cho biết những người ở vị trí như Ervin “hoàn toàn kiểm soát hoạt động kinh doanh của mình” và “phần lớn đều nói với chúng tôi rằng họ yêu thích việc làm doanh nhân, tạo ra công việc tốt và đóng góp tích cực cho cộng đồng địa phương.”

Công ty cho rằng Ervin là trường hợp cá biệt và hợp đồng của ông bị chấm dứt do “liên tiếp vi phạm các quy định an toàn.”

Trong đơn kiện tại California, Ervin cho rằng những lý do Amazon đưa ra để chấm dứt hợp đồng là “không có căn cứ” và công ty đã trả đũa ông vì hành động như một người tố giác sai phạm.

Trong hồ sơ gửi tòa, Amazon bác bỏ “một cách tổng quát và cụ thể từng cáo buộc” trong vụ kiện này.

Amazon gọi các doanh nghiệp như của Ervin là đối tác dịch vụ giao hàng, hay DSP. Trong hơn một thập niên qua, Amazon đã xây dựng mạng lưới gồm hàng ngàn DSP để triển khai hàng trăm ngàn tài xế giao khoảng 20 triệu bưu kiện mỗi ngày tại 19 quốc gia.

Mạng lưới này đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố vị thế thống trị của Amazon trong lĩnh vực giao hàng tốc độ cao.

Đây cũng là một trong những ví dụ điển hình nhất cho xu hướng đang lan rộng trong thị trường lao động Mỹ nhiều thập niên qua. Những người lao động trực tiếp tạo ra giá trị cốt lõi cho một thương hiệu, từ lập trình viên của Google đến thu ngân McDonald's hay tài xế Uber, trên danh nghĩa lại được tuyển dụng bởi một đơn vị khác. Ngày càng nhiều công ty hưởng lợi từ lực lượng lao động đó trong khi chuyển phần lớn trách nhiệm và rủi ro sang bên thứ ba.

Đối với Amazon, mô hình “ai mới thực sự là ông chủ?” này tạo ra một lớp bảo vệ pháp lý trước các khiếu nại liên quan đến người lao động như tai nạn giao thông hoặc các vụ kiện do chính người lao động khởi xướng, chẳng hạn tranh chấp tiền lương.

Mô hình này cũng giúp công ty dễ dàng tránh phải đàm phán với các tài xế muốn thành lập công đoàn. Ít nhất đó là tình hình trước khi Amazon chấm dứt quan hệ với Battle-Tested Strategies.

Năm 2023, trong lúc Amazon đang thu hẹp quan hệ với doanh nghiệp này, các nhân viên của Ervin đã bỏ phiếu gia nhập công đoàn Teamsters. Động thái đó mở ra cuộc chiến pháp lý kéo dài nhiều năm nhằm chứng minh rằng Amazon cũng là người sử dụng lao động hợp pháp của họ bên cạnh Ervin, điều được gọi là mô hình “đồng sử dụng lao động.”

Mục tiêu cuối cùng là trở thành nhóm tài xế hợp đồng đầu tiên tại Mỹ được công nhận là nhân viên của Amazon và là những người lao động đầu tiên buộc công ty phải tiến hành thương lượng tập thể.

Cơ hội thành công của các tài xế vốn rất mong manh. Bốn năm sau khi nhân viên tại một kho hàng Amazon ở thành phố New York bỏ phiếu thành lập công đoàn, các cuộc đàm phán vẫn chưa diễn ra. Amazon đang đề nghị một tòa án liên bang hủy bỏ loạt phán quyết yêu cầu công ty phải ngồi vào bàn thương lượng.

Tuy nhiên, cho đến mùa Xuân năm nay, nhóm tài xế tại Palmdale vẫn đạt được nhiều bước tiến mang tính bước ngoặt.

Ngay cả sau khi Tổng thống Donald Trump tuyên thệ nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai vào năm ngoái, chính phủ Mỹ vẫn tiếp tục lập luận rằng Amazon mới là ông chủ thực sự của các lao động thuộc công ty Ervin và có nghĩa vụ đàm phán với họ.

Thế nhưng đến tháng 4, chính phủ đã đề nghị khép lại vụ việc theo các điều khoản có lợi cho Amazon. Động thái này được thực hiện theo chỉ đạo của tổng cố vấn mới được ông Trump bổ nhiệm tại Ủy ban Quan hệ Lao động Quốc gia Mỹ (NLRB), người trước đây từng là luật sư bên ngoài của Amazon.

NLRB từ chối bình luận về thỏa thuận dàn xếp này.

Dù kết quả cuối cùng ra sao, phiên xét xử đã kéo dài đủ lâu để hé lộ một góc nhìn chưa từng có về mức độ kiểm soát của Amazon đối với những đơn vị mà công ty gọi là nhà thầu độc lập. Bloomberg Businessweek đã sử dụng các yêu cầu theo Đạo luật Tự do Thông tin để thu thập hàng ngàn trang tài liệu mật của công ty do chính phủ Mỹ thu giữ trong quá trình điều tra vụ việc.

Những tài liệu này cho thấy Amazon quản lý chặt chẽ và sâu sát các lao động mà công ty khẳng định không phải nhân viên của mình. Amazon can thiệp vào việc DSP được tuyển dụng ai, tài xế làm việc khi nào, lái xe ở đâu, nói gì, mùi cơ thể ra sao và nhiều vấn đề khác.

Các hồ sơ cũng tiết lộ Amazon đặc biệt nhấn mạnh tài xế phải đóng vai trò đại diện hình ảnh công ty trước khách hàng. Công ty theo dõi tiến độ và hiệu suất làm việc bằng rất nhiều công cụ khác nhau, đánh dấu màu đỏ tại những địa điểm mà họ cho rằng tài xế dừng quá lâu và cung cấp cho từng chủ DSP danh sách những nhân viên bị đánh giá kém nhất. Amazon cũng đưa ra các kịch bản hội thoại và quy định hạn chế phát ngôn dành cho DSP khi trao đổi với tài xế, khách hàng, nhà cung cấp và công chúng.

“Họ bị ám ảnh bởi việc kiểm soát vì đó là yếu tố cốt lõi trong mô hình kinh doanh của họ,” David Weil, người phụ trách thực thi luật tiền lương và giờ làm việc tại Bộ Lao động Mỹ dưới thời chính quyền Obama, cho biết.

“Nếu anh can dự sâu đến mức đó thì xin chúc mừng, anh có trách nhiệm với quan hệ lao động đó.”

Hiện là giáo sư chính sách xã hội và kinh tế tại Đại học Brandeis, Weil cho rằng luật pháp vốn được xây dựng theo nguyên tắc như vậy. Ông lo ngại chiến thắng của Amazon trong vụ việc tại NLRB sẽ tạo ra tiền lệ cho nhiều doanh nghiệp khác. Điều này xảy ra bất chấp những bằng chứng cho thấy mức độ kiểm soát của công ty đối với hoạt động của các nhà thầu là điều cực kỳ hiếm thấy trong lịch sử. Theo ông, các doanh nghiệp có thể quản lý người lao động theo cách tương tự nhưng vẫn né tránh trách nhiệm của người sử dụng lao động.

“Mô hình này sẽ ngày càng phổ biến nếu các công ty như Amazon được phép tạo ra ảo tưởng đó,” Weil nói.

Amazon khẳng định tính độc lập của các DSP là hoàn toàn có thật.

“Chương trình DSP được xây dựng trên cơ sở rằng các chủ doanh nghiệp nhỏ hiểu cộng đồng của họ hơn bất kỳ ai,” công ty cho biết trong tuyên bố. “Họ tự quyết định tuyển dụng ai và vận hành doanh nghiệp như thế nào. Các tiêu chuẩn trong hợp đồng của chúng tôi cũng là thông lệ phổ biến trong ngành giao hàng.”

Amazon cũng phủ nhận mọi hành vi sai phạm trong vụ việc tại NLRB.

“Chúng tôi rất vui vì đã khép lại vấn đề này để tập trung hỗ trợ đội ngũ của mình, các đối tác, bao gồm cả các DSP, và những cộng đồng mà chúng tôi cùng phục vụ,” công ty cho biết.

Tại phiên tòa, một luật sư của Amazon lập luận rằng Ervin hành xử “giống George Costanza”, nhân vật trong bộ phim truyền hình Seinfeld từng nghỉ việc rồi quay lại như thể chưa có chuyện gì xảy ra.

Amazon cho rằng vào thời điểm Ervin công nhận công đoàn của các tài xế, ông đã biết hợp đồng của mình sẽ bị chấm dứt trước thời hạn. Theo lập luận của công ty, chiến dịch thành lập công đoàn thực chất là một hành động trả đũa được che đậy khéo léo và chưa bao giờ nhận được sự ủng hộ hợp pháp từ đa số người lao động.

Ervin và các tài xế từng làm việc cho ông cho biết ông chỉ đơn giản để họ tự quyết định.

Trong các cuộc phỏng vấn, một tá tài xế từng làm việc cho những DSP khác nhau tại ba bang mô tả các doanh nghiệp này như những công ty tồn tại trên danh nghĩa, có nhiệm vụ thực thi các quy định nghiêm ngặt của Amazon, giám sát liên tục và áp đặt chỉ tiêu khắc nghiệt. Tại một số khu vực đô thị, tài xế phải hoàn thành tới 30 điểm giao hàng mỗi giờ.

Một nữ tài xế cho biết quản lý DSP từng gợi ý cho cô dùng một chiếc phễu để đi tiểu vào chai trong xe tải.

Những người khác nói rằng quản lý yêu cầu họ phải tuân thủ chính xác lộ trình do phần mềm Amazon vạch ra, kể cả khi tuyến đường đó hoàn toàn vô lý, nhằm giúp thuật toán tiếp tục học hỏi và cải thiện.

Amazon bác bỏ những mô tả này, cho rằng đó là các thông tin sai lệch và không phản ánh trải nghiệm của phần lớn DSP hoặc nhân viên của họ. Công ty cũng khẳng định tài xế không bắt buộc phải làm theo thứ tự giao hàng mà hệ thống đề xuất.

Giống nhiều công việc lao động phổ thông khác, mức lương cũng không quá hấp dẫn. Năm ngoái, Amazon thông báo sẽ chi thêm 1,9 tỉ USD nhằm giúp các DSP nâng mức lương trung bình của tài xế lên gần 23 USD mỗi giờ.

Trong khi đó, tài xế toàn thời gian thuộc công đoàn Teamsters tại United Parcel Service (UPS) nhận mức lương từ khoảng 23 USD đến 48 USD mỗi giờ.

Trong lúc công đoàn phản đối thỏa thuận dàn xếp của NLRB, họ vẫn tiếp tục vận động thành lập công đoàn tại các đơn vị giao hàng khác của Amazon. Tổ chức này cũng thúc đẩy các dự luật tại những hội đồng thành phố như New York nhằm phá vỡ mô hình thuê ngoài hiện nay của Amazon.

Người lao động cho biết việc Ervin mở đường cho chiến dịch công đoàn đã tiếp thêm động lực cho họ. Những tài liệu được công khai về cách Amazon vận hành và kiểm soát lực lượng lao động cũng góp phần hỗ trợ nỗ lực này.

Tuy nhiên, theo nhiều người, yếu tố quan trọng nhất vẫn là những gì họ phải đối mặt mỗi ngày trong công việc.

Tài xế Matt Multari cho rằng Amazon buộc ông và đồng nghiệp phải làm việc với sự khéo léo của các vận động viên Olympic và sức bền của những cỗ máy.

Ervin nói rằng sự thăng trầm của vụ kiện liên quan đến các tài xế đã chứng minh quan điểm của ông: Amazon mới là người thực sự cầm lái.

Trong vụ kiện tại California, ông cáo buộc Amazon kiểm soát bản thân ông và doanh nghiệp của ông tới mức chính ông cũng đáng lẽ phải được phân loại là nhân viên của Amazon.

Theo Ervin, sở hữu một DSP chưa bao giờ là hoạt động kinh doanh thực sự. Ông ví bản thân như một sĩ quan cấp thấp bất lực trong loạt phim Star Trek, bị tập thể Borg đồng hóa hoàn toàn.

“Bạn không phải đối tác,” Ervin nói. “Kháng cự là vô ích.”

Ervin luôn muốn trở thành ông chủ của chính mình. Khi còn là thiếu niên tại thành phố Flint, bang Michigan, nơi ông được ông bà nuôi dưỡng sau khi mẹ qua đời, Ervin từng cố gắng mở một doanh nghiệp giao hàng qua thư nhưng thất bại.

Năm 1997, ông gia nhập Không quân Mỹ ngay sau khi tốt nghiệp trung học. Ông phục vụ trong quân ngũ 10 năm trước khi chuyển sang lực lượng dự bị và làm việc cho một nhà thầu quân sự, công việc đưa ông tới Kuwait và Iraq.

Đến năm 2018, Ervin nhìn thấy một quảng cáo của Amazon mà ông cho là rất hấp dẫn. Công ty đang tìm kiếm những “cựu quân nhân có tố chất lãnh đạo” muốn điều hành doanh nghiệp riêng và có thể kiếm tới 300.000 USD mỗi năm khi trở thành DSP.

Ervin cho biết ông chưa bao giờ kiếm được số tiền đó.

“Họ tuyển tôi với vai trò một người lãnh đạo,” Ervin nói. “Tôi nghĩ rằng: ‘Ồ, tôi thích Amazon. Họ đang ở tuyến đầu của đổi mới và phát triển.’”

Battle-Tested Strategies bắt đầu giao hàng cho khách vào tháng 10.2019. Ervin nhanh chóng trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của chương trình DSP. Ông đạt được nhiều đánh giá cao, xuất hiện trong các tài liệu quảng bá và tham gia tuyển dụng thêm những người muốn trở thành chủ doanh nghiệp trong mạng lưới này.

Năm 2020, với lý do Ervin có “năng lực lãnh đạo”, Amazon đề nghị ông chuyển hoạt động từ Pasadena đến một kho hàng mới tại Palmdale, cách Los Angeles khoảng một giờ lái xe về phía Bắc.

“Chúng tôi rất mong có một chủ doanh nghiệp mạnh như anh hỗ trợ khai trương DAX8 và trở thành người tiên phong trong việc xây dựng văn hóa lấy khách hàng và tài xế làm trung tâm tại địa điểm mới,” một đại diện Amazon viết trong email mà Businessweek đã xem.

Ervin đồng ý nhận thử thách đó.

Tuy nhiên, ông cho biết dần nhận ra chương trình này không giống như những gì mình từng hình dung. Càng cố gắng hành động như một nhà lãnh đạo thực thụ, mối quan hệ giữa ông và Amazon càng xấu đi.

Khi ông đề xuất công ty áp dụng các tiêu chuẩn của Không quân Mỹ nhằm bảo vệ binh sĩ trước thời tiết nắng nóng cực đoan, Amazon đã phớt lờ đề xuất đó.

Khi ông kiến nghị cải thiện sức khỏe và tinh thần của tài xế bằng cách áp dụng định kỳ những ngày có chỉ tiêu giao hàng thấp hơn bình thường, một đại diện Amazon bác bỏ ý tưởng này ngay lập tức.

“Họ luôn núp sau một lớp quan liêu khổng lồ,” ông nói. “Họ chỉ nói: ‘Chúng tôi không thể làm gì được.’”

Tháng 11.2021, Ervin, một người da màu, nộp đơn khiếu nại nội bộ và cáo buộc một quản lý Amazon có hành vi phân biệt chủng tộc. Theo ông, người này từ chối liên lạc trực tiếp với ông và gán cho ông nhãn “hung hăng” một cách sai sự thật.

Ervin Johnathan Bloomberg
Ervin tại nơi làm việc vào năm 2023. Hình ảnh: Dania Maxwell/Los Angeles Times/Getty Images

Theo đơn kiện tại California, người quản lý còn cáo buộc Ervin đã “chặn đường và dồn ép về mặt thể chất”, dù “hai người chưa từng ở riêng với nhau”.

Ervin cho biết Amazon không có động thái xử lý khiếu nại của ông.

Trong tuyên bố của mình, Amazon cho biết công ty không dung thứ hành vi phân biệt đối xử hay quấy rối và luôn điều tra kỹ lưỡng các cáo buộc dạng này. Theo lời Ervin, vào một ngày năm 2022 khi nhiệt độ lên tới 107 độ F (khoảng 42 độ C), một đại diện Amazon phàn nàn rằng các tài xế của ông đang chậm tiến độ giao hàng.

Khi Ervin đáp lại rằng Amazon đã không thực hiện chính sách giảm tải công việc trong điều kiện nắng nóng cực đoan do chính công ty đặt ra, ông nói vị đại diện này trả lời rằng đã quá muộn để thay đổi kế hoạch giao hàng trong ngày.

Người đó còn nói nếu có tài xế nào quá mệt để làm việc, Ervin sẽ phải cung cấp các bản tường trình bằng văn bản để chứng minh điều đó.

Ervin kể rằng khi ông nói một phần số hàng trong ngày sẽ phải giao muộn, đại diện Amazon đã đe dọa cáo buộc ông vi phạm hợp đồng.

Cũng trong khoảng thời gian đó, các nhân viên của Ervin bắt đầu lưu hành một bản kiến nghị ghi lại những vấn đề họ gặp tại nơi làm việc, trong đó có các khiếu nại về chỉ tiêu giao hàng. Đây là dấu hiệu thường xuất hiện trước khi người lao động phát động chiến dịch thành lập công đoàn.

Một đại diện Amazon gọi điện cho Ervin và nói rằng công ty nghe tin các tài xế của ông đang lên kế hoạch đình công. Người này sau đó giới thiệu ông với các luật sư của Ogletree, Deakins, Nash, Smoak & Stewart, hãng luật chuyên xử lý các tranh chấp lao động. Amazon khi đó đang hỗ trợ DSP chi trả chi phí thuê hãng luật này.

Ervin tổ chức một cuộc họp với các tài xế để thảo luận về những bất bình của họ. Sau đó, ông nói với họ rằng mình sẽ “cố gắng hết sức” để hỗ trợ, nhưng “tôi không hoàn toàn nắm quyền kiểm soát”, theo lời khai sau này của ông.

“Về cơ bản, ông ấy đang nói với chúng tôi rằng mình chỉ là một con rối,” cựu nhân viên Rajpal Singh nhớ lại tại phiên điều trần của NLRB. “Dây điều khiển nằm trong tay Amazon.”

Singh khai rằng Ervin còn nói thêm: “Nếu các anh muốn có thay đổi, các anh có thể thành lập công đoàn.”

Từ cuối năm 2022, Amazon liên tục ghi nhận Battle-Tested Strategies vi phạm hợp đồng. Các cáo buộc bao gồm chậm thanh toán cho nhà cung cấp và để những chiếc xe lẽ ra phải ngừng hoạt động vẫn tiếp tục lưu thông.

Ervin cho rằng các vi phạm này dựa trên thông tin sai lệch hoặc xuất phát từ lỗi của chính Amazon. Theo ông, đây là hành động trả đũa nhằm vào bản thân ông và các tài xế của mình.

Cũng trong giai đoạn đó, Ervin cho biết Amazon nhiều lần đề nghị ông tự chấm dứt hợp đồng, sớm gần một năm so với thời hạn dự kiến.

Mượn lời nam diễn viên Charlton Heston, ông đáp lại rằng Amazon chỉ có thể lấy DSP của ông “khi tôi đã chết và tay vẫn còn lạnh”.

Tháng 2.2023, Ervin nhận được email. Nội dung thông báo Amazon sẽ giảm mức thanh toán trên mỗi kiện hàng cho Battle-Tested Strategies vì tỉ lệ nhân viên tuân thủ quy định đồng phục của công ty đã xuống dưới 95% trong nhiều tuần liên tiếp.

“Tôi tin rằng chúng tôi đang bị nhắm vào,” Ervin trả lời. “Các anh đang áp dụng quy trình vận hành tiêu chuẩn nào vậy?”

Tài khoản Amazon dẫn ông quay lại với các “chính sách chương trình” hiện hành.

Khi Ervin nói công ty đang không tuân thủ chính những quy định của mình, Amazon vẫn giữ nguyên quyết định.

“Tôi muốn nói chuyện với cấp trên của các anh,” Ervin viết trong email tiếp theo ngày 15.3. “Các anh cố tình không lắng nghe và gây áp lực không cần thiết bằng cách từ chối trao đổi nghiêm túc về vấn đề này… Tôi đang nói rằng mình bị nhắm mục tiêu và các anh không hề lắng nghe. Các anh là ai? Tên và số điện thoại của cấp trên các anh là gì?”

Một tháng sau, Amazon thông báo sẽ chấm dứt hợp tác với Ervin từ tháng 6.

Chỉ trong vòng một tuần sau thông báo đó, Ervin cho phép các nhà tổ chức của công đoàn Teamsters đến gặp các tài xế của ông ngay trước ca làm việc và đăng ký thành viên ngay tại cơ sở.

Ông sau đó trở thành chủ DSP đầu tiên đàm phán và ký kết thỏa ước lao động tập thể.

Ervin nói ông không thấy lý do gì để từ chối.

Trong tuyên bố của mình, Amazon bác bỏ lời kể của Ervin về các nỗ lực thúc đẩy biện pháp bảo vệ người lao động trước nắng nóng và giảm chỉ tiêu công việc. Công ty cho rằng ông đã vi phạm quy định an toàn khi không duy trì hệ thống điều hòa hoạt động tốt trên các xe giao hàng.

Amazon cho biết Battle-Tested Strategies bị chấm dứt hợp đồng vì nhiều vi phạm, bao gồm sử dụng các phương tiện có hệ thống phanh gặp sự cố.

“An toàn là ưu tiên hàng đầu của chúng tôi. Khi xuất hiện những vi phạm rõ ràng đối với nghĩa vụ hợp đồng nhằm duy trì tiêu chuẩn này, chúng tôi đã làm điều mà bất kỳ công ty có trách nhiệm nào cũng sẽ làm, đó là chấm dứt hợp đồng. Quyết định này được đưa ra từ rất lâu trước khi họ có bất kỳ liên hệ nào với Teamsters,” công ty cho biết.

Trong đơn kiện tại California, Ervin khẳng định chính ông mới là người nêu ra những lo ngại về hệ thống điều hòa hỏng hóc trên xe. Ông cũng cho rằng Amazon đã không xử lý vấn đề này.

Tháng 9.2024, NLRB dưới thời Tổng thống Joe Biden đã đệ đơn khiếu nại Amazon. Cơ quan này lập luận rằng Amazon kiểm soát các tài xế của Ervin ở mức độ đủ lớn để được xem là người sử dụng lao động hợp pháp của họ. Vì vậy, công ty có nghĩa vụ đàm phán tập thể sau khi Ervin công nhận công đoàn của các tài xế.

Đơn khiếu nại liên bang mang tính bước ngoặt này cũng cáo buộc Amazon đã đe dọa, gây sức ép và trả đũa các tài xế trong giai đoạn từ khi họ tổ chức công đoàn cho đến khi Battle-Tested Strategies giải thể.

Theo đơn khiếu nại, Amazon đã áp dụng các cuộc kiểm tra nghiêm ngặt hơn đối với kho hàng của nhóm tài xế này, làm chậm hoạt động giao nhận và triển khai lực lượng bảo vệ đến cơ sở làm việc.

Tài xế Michael Leib sau đó khai trước tòa rằng Amazon chưa từng triển khai bảo vệ theo cách tương tự khi có người đánh cắp bộ chuyển đổi xúc tác trên các phương tiện của họ.

Một tuần sau lễ nhậm chức năm 2025, khi Jeff Bezos ngồi bên trái Tim Cook và Elon Musk, phía trước các thành viên nội các tương lai của chính quyền mới, Tổng thống Donald Trump đã sa thải Jennifer Abruzzo, tổng cố vấn của NLRB và là người khởi xướng vụ kiện cáo buộc Amazon là đồng chủ sử dụng lao động.

Trong lá thư mà Businessweek thu thập được thông qua Đạo luật Tự do Thông tin, ông Trump cho biết ông lo ngại Abruzzo cùng một quan chức cấp cao khác bị sa thải đã “không xem trọng lợi ích của các chủ sử dụng lao động, từ nhỏ đến lớn”. Ông đặc biệt đề cập đến quan điểm của họ về khái niệm đồng chủ sử dụng lao động.

Để thay thế Abruzzo trên cương vị quyền tổng cố vấn, ông Trump bổ nhiệm William Cowen, người từng là thành viên NLRB dưới thời Tổng thống George W. Bush.

Dưới sự lãnh đạo của Cowen, cơ quan này đã từ bỏ hàng loạt vụ việc mà Abruzzo theo đuổi trước đó, bao gồm các vụ liên quan đến Apple và SpaceX. Cả hai công ty đều phủ nhận hành vi sai phạm trong những vụ việc đó.

Tuy nhiên, Cowen vẫn tiếp tục theo đuổi một số sáng kiến của người tiền nhiệm, trong đó có vụ việc liên quan đến DSP của Ervin.

Trong cuộc phỏng vấn với Businessweek vào cuối năm ngoái, Cowen cho rằng các công ty muốn hạn chế trách nhiệm pháp lý có một giải pháp rất đơn giản.

“Nếu một chủ sử dụng lao động muốn tránh bị coi là đồng chủ sử dụng lao động, hãy ngừng can thiệp vào hoạt động kinh doanh của chủ sử dụng lao động khác.”

Theo ông, vụ việc tại Palmdale đặt ra “một câu hỏi rất lớn đối với cả Teamsters lẫn Amazon”.

driver Bloomberg Businessweek
Cựu tài xế Amazon, Michael Leib, cho biết ông đã bị chó cắn bốn lần trong lúc làm việc. Hình ảnh: Stella Kalinina/Bloomberg Businessweek

Cowen cho biết trong nhiều năm qua, nhiều doanh nghiệp đã thay đổi mô hình kinh doanh và trực tiếp tuyển dụng lao động sau khi chính phủ xác định rằng họ vẫn phải chịu trách nhiệm về cách đối xử với người lao động, bất kể mô hình thuê ngoài ra sao.

Ông lập luận rằng tất cả các bên trong tranh chấp đều nên mong muốn vụ việc được tiếp tục để câu hỏi về trách nhiệm của Amazon có thể được giải đáp rõ ràng.

“Đây là một vấn đề lớn và có tác động trên phạm vi cả nước. Nếu tôi nói rằng: ‘Được rồi, tôi sẽ không theo đuổi vụ này nữa, tôi không chấp nhận lập luận đó,’ thì thực chất chẳng có vấn đề nào được giải quyết cả.”

Amazon mở đầu phiên xét xử của NLRB bằng tuyên bố với thẩm phán rằng họ sẽ không tuân thủ các trát yêu cầu cung cấp tài liệu của chính phủ.

“Amazon không sẵn sàng tham gia vào việc lạm dụng các quy trình của NLRB,” luật sư Brian Stolzenbach phát biểu tại phiên điều trần ở Los Angeles vào tháng 9 năm ngoái.

Ông cáo buộc nhóm của Cowen đang tiến hành một cuộc “câu cá bằng lưới rộng”, tức tìm kiếm bằng chứng một cách vô tội vạ để phục vụ cho một chương trình nghị sự lớn hơn.

Amazon tuyên bố sẽ không cung cấp những tài liệu mà NLRB yêu cầu nhằm xác định liệu công ty có phải là đồng chủ sử dụng lao động của các tài xế thuộc quyền quản lý của Ervin hay không.

Tuy vậy, nhờ sự hợp tác của Ervin, một lượng lớn bằng chứng vẫn được đưa ra ánh sáng.

Một phiên bản hợp đồng DSP năm 2023 được đưa vào hồ sơ vụ án cho thấy Amazon yêu cầu các nhà thầu được cho là độc lập này phải tuân thủ không chỉ các chính sách hiện hành của chương trình mà cả mọi quy định mới mà công ty có thể đơn phương ban hành trong tương lai.

Theo hợp đồng, những quy định mới đó sẽ trở thành “một phần trong hợp đồng của công ty bạn với Amazon như thể chúng đã được viết đầy đủ trong thỏa thuận này”.

Bloomberg News từng đưa tin vào năm 2021 rằng các phiên bản hợp đồng trước đó cũng có điều khoản tương tự.

Theo các tài liệu được công bố trong vụ việc, Amazon còn quy định DSP phải sử dụng nhà cung cấp dịch vụ nào cho mọi hoạt động, từ thay dầu đến đảo lốp xe, đồng thời quy định thời điểm và cách thức liên hệ với các nhà cung cấp đó.

Amazon quyết định tài xế nào sẽ giao những kiện hàng nào và họ phải đi theo tuyến đường nào.

Công ty cũng chỉ đạo DSP yêu cầu tài xế “tin tưởng vào tuyến đường giao hàng của mình”, kể cả khi tuyến đường đó “có vẻ đi vòng vo”, vì mỗi tuyến được thiết kế để giảm thiểu các thao tác “kém hiệu quả”, chẳng hạn như rẽ trái.

Amazon biết chính xác những tuyến đường đó đang được thực hiện ra sao bởi DSP phải cung cấp cho công ty quyền truy cập vào một lượng lớn dữ liệu, bao gồm vị trí thời gian thực của tài xế. Amazon có thể sử dụng những dữ liệu này “không bị hạn chế”.

Amazon yêu cầu DSP buộc tài xế ký thỏa thuận bảo mật, chấp nhận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và thực hiện xét nghiệm ma túy khi đại diện Amazon cho là cần thiết.

Trong quá trình làm việc, các tài xế, những người mà Amazon nói với DSP rằng “đại diện cho Amazon trước khách hàng”, phải mặc áo polo Amazon và quần dài hoặc quần short Amazon. Họ có thể đội mũ Amazon, nhưng không được đội ngược. Áo khoác Amazon cũng là một lựa chọn được quy định.

Amazon còn yêu cầu tài xế phải “gọn gàng và sạch sẽ”, bao gồm việc “ngăn ngừa hơi thở hoặc mùi cơ thể khó chịu, sử dụng nước hoa ở mức vừa phải, đồng thời giữ sạch răng, mặt, tai, móng tay và tóc”.

Nếu Amazon không hài lòng với một tài xế cụ thể, công ty có thể “vô hiệu hóa” người đó, tức đơn phương chấm dứt quyền giao hàng cho Amazon.

Các tài liệu được tiết lộ từ vụ Battle-Tested Strategies cũng cho thấy cách các tài xế có thể bị mất điểm trong mắt công ty.

Theo hồ sơ nội bộ được công bố trong vụ kiện và sau đó được Businessweek thu thập thông qua Đạo luật Tự do Thông tin, Amazon xây dựng hệ thống xếp hạng hiệu suất đối với tài xế DSP và tạo bảng xếp hạng cho từng chủ DSP, trong đó đánh giá từng nhân viên của họ.

Hệ thống của Amazon cũng sử dụng các màu vàng sáng, cam hoặc đỏ để đánh dấu “những khu vực mà tài xế đã dành quá nhiều thời gian”.

Khi xảy ra sự cố, tài xế được yêu cầu gọi đến đường dây hỗ trợ do Amazon vận hành thay vì liên hệ với DSP của mình.

DSP phải lập tức thông báo cho Amazon sau “bất kỳ tương tác tiêu cực nào với khách hàng hoặc công chúng”, hoặc bất kỳ “sự việc nào có thể ảnh hưởng đến lòng tin của khách hàng đối với công ty của bạn hoặc đối với Amazon”.

Nếu xảy ra thiệt hại tài sản, DSP bị cấm tiếp tục liên lạc với chủ sở hữu tài sản sau khi đã thông báo cho họ biết sự việc.

Theo sổ tay vận hành năm 2022 được công bố trong vụ việc, Amazon còn yêu cầu các chủ DSP cẩn trọng khi đặt tên công ty vì “Amazon có thể yêu cầu bạn thay đổi” nếu tên đó bị cho là phản cảm hoặc quá giống thuật ngữ của Amazon.

Ví dụ, công ty có thể phản đối việc sử dụng từ “Smile”, một từ gắn liền với thương hiệu Amazon.

Ngoài việc cung cấp các nội dung phát biểu mẫu để chủ DSP sử dụng trong các cuộc họp đầu ca với tài xế, Amazon còn yêu cầu họ dành thời gian trong những buổi họp đó cho các bài trình bày mà Amazon muốn trực tiếp truyền đạt đến nhân viên.

Những tài liệu mới được công bố cũng cho thấy Amazon cung cấp các mẫu tin tuyển dụng để DSP sử dụng khi tìm kiếm tài xế và công ty phải phê duyệt mọi ứng viên mới tham gia vận chuyển hàng hóa cho mình.

Tuy nhiên, Amazon yêu cầu DSP tránh sử dụng cụm từ “Amazon đang tuyển dụng”.

Công ty cũng quy định rằng “không được nhắc đến Amazon” nếu tin tuyển dụng đề cập đến các cuộc kiểm tra lý lịch mà Amazon yêu cầu và trực tiếp xem xét.

Amazon có quyền từ chối những ứng viên mà DSP muốn tuyển dụng dựa trên các tiêu chí nội bộ bí mật của riêng mình.

Theo tài liệu của công ty, điều đó là cần thiết vì “quyết định được đưa ra là liệu cá nhân đó có đủ điều kiện giao hàng đến nhà khách hàng của Amazon hay không”.

Những người vượt qua vòng xét duyệt phải tham gia chương trình đào tạo kéo dài nhiều ngày do Amazon tổ chức và điều phối.

Amazon thiết kế quy trình giao hàng một cách chi tiết, với bảy bước cụ thể. Công ty quy định ảnh chụp xác nhận giao hàng không được chứa “bất kỳ bộ phận nào của con người”.

Amazon cũng yêu cầu nhân viên DSP phải “giúp khẳng định giá trị khoản đầu tư của khách hàng bằng cách chào hỏi với nụ cười, thể hiện sự nhiệt tình và cảm ơn khách hàng đã lựa chọn Amazon”.

Theo các tài liệu được trình bày tại phiên điều trần, hãng luật Ogletree Deakins, đơn vị được Amazon hỗ trợ chi phí để giúp các DSP xử lý các vấn đề lao động, đã viết trong một email gửi Ervin rằng các luật sư của họ từng hỗ trợ “giảm thiểu nguy cơ” thành lập công đoàn.

Email này cũng nêu rõ:

“Vì các yêu cầu và phương thức vận hành của Amazon là nguyên nhân dẫn đến nhiều, nếu không muốn nói là phần lớn, những vấn đề và mối quan ngại của tài xế, chúng tôi cần làm việc với họ để giải quyết các vấn đề đó và không thể làm được nếu thiếu họ.”

Bất chấp tất cả những điều này, Amazon vẫn chỉ đạo các DSP “nhấn mạnh với nhân viên rằng họ làm việc cho công ty của bạn chứ không phải là nhân viên Amazon”.

Công ty cũng yêu cầu các DSP bảo đảm tài xế thận trọng trên mạng xã hội nhằm “tránh tạo ra hiểu lầm rằng họ làm việc cho Amazon”.

Các DSP bị cấm phát hành thông cáo báo chí hoặc tài liệu quảng bá có nhắc đến Amazon nếu chưa được công ty cho phép.

“Các DSP, bao gồm cả BTS, về cơ bản là những công ty giao hàng bị phụ thuộc hoàn toàn,” luật sư NLRB Sanam Yasseri phát biểu trước thẩm phán vào tháng 9.

Hàng loạt cựu nhân viên đưa ra những lời khai tương tự.

Một người trong số đó là Leib. Anh nhớ rằng khi muốn được tăng lương, Ervin phải tìm đến Amazon để xin thêm tiền. Cuối cùng, anh vẫn không được tăng lương.

Leib cũng cho biết Amazon từng hứa sẽ loại khỏi tuyến giao hàng của anh một căn nhà có chó từng cắn anh, nhưng điều đó chưa bao giờ xảy ra.

Một tài xế khác là Deion Steppes kể rằng Amazon đã đánh giá thấp hiệu suất của anh vì giao hàng quá chậm trong một ngày mà một khách hàng dùng súng săn đe dọa anh.

Steppes cũng kể lại việc Amazon đình chỉ quyền làm việc của anh vì chưa hoàn thành một video đào tạo bắt buộc dài năm phút.

Anh mất nhiều ngày để tìm cách đăng nhập trở lại cổng thông tin của Amazon nhằm xem video này, rồi tiếp tục phải chờ nhiều tuần không có lương trong lúc đợi Amazon kích hoạt lại tài khoản.

Sau đó, khi luật sư Amazon Brian Stolzenbach cố yêu cầu Steppes thừa nhận rằng anh chưa bao giờ là nhân viên Amazon, Steppes trả lời:

“Tôi từng nghĩ mình làm việc cho Amazon.”

Luật sư tiếp tục hỏi liệu công ty của Ervin mới là người sử dụng lao động của anh hay không.

“Tôi không biết đó là hai thực thể khác nhau,” Steppes đáp.

Nhưng chẳng phải Battle-Tested Strategies là cái tên xuất hiện trên phiếu lương của anh sao?

Lúc đó, Steppes giơ hai tay lên và nói:

“Tôi thường nhận lương chuyển khoản trực tiếp.”

Các tài xế trên khắp nước Mỹ cũng kể những câu chuyện tương tự trong các cuộc phỏng vấn.

Họ cho biết các DSP cuối cùng tỏ ra bất lực trong việc cải thiện điều kiện làm việc, chẳng hạn các chỉ tiêu giao hàng khiến có ngày họ chỉ còn trung bình hai phút cho mỗi điểm dừng.

Theo cách tính của Amazon, một “điểm dừng” có thể bao gồm nhiều địa điểm giao hàng tại một cụm nhà gần nhau, hoặc việc mang một bộ tạ nặng lên nhiều tầng cầu thang.

Amazon cũng kiểm soát các camera tích hợp trí tuệ nhân tạo trên xe tải giao hàng, hệ thống được thiết kế để phát hiện hành vi lái xe không an toàn.

Các tài xế cho biết camera đôi khi ghi nhận những lỗi không hợp lý như ngáp, uống nước hoặc đối với phụ nữ có vòng ngực lớn khiến dây an toàn bị che khuất.

Nhiều người nói hệ thống này tạo cảm giác khó chịu và bị giám sát quá mức.

Nhiều năm sau khi tài xế Amazon trở nên nổi tiếng vì phải đi tiểu vào chai nước để kịp hoàn thành chỉ tiêu giao hàng, một minh chứng khác cho áp lực công việc khắc nghiệt, nhiều tài xế cho biết thói quen đó vẫn còn phổ biến.

Một số người kể rằng họ phải sắp xếp lại các thùng hàng để che khuất tầm nhìn của camera trước khi đi vệ sinh.

Theo các tài liệu được phát hiện trong vụ Battle-Tested Strategies, trong bộ tài liệu hướng dẫn mà Amazon cung cấp cho các chủ DSP khi triển khai camera lần đầu, công ty yêu cầu họ nói với tài xế:

“Tôi có thể bảo đảm rằng Amazon rất coi trọng quyền riêng tư trong quá trình triển khai này.”

Trong tuyên bố của mình, Amazon cho biết các tài xế có thể sử dụng nhà vệ sinh bất cứ khi nào cần.

Công ty nói ứng dụng của họ chỉ dẫn tài xế tới các nhà vệ sinh công cộng gần nhất, các tuyến giao hàng đều bao gồm nhiều khoảng nghỉ và việc xây dựng tuyến đường đã tính đến địa hình, tình trạng giao thông cũng như độ phức tạp của từng điểm giao hàng.

“Không có chỉ tiêu cố định và phần lớn các tuyến giao hàng đều hoàn thành đúng hạn hoặc sớm hơn dự kiến,” Amazon cho biết.

“Các DSP quyết định số lượng tuyến đường họ vận hành, phân công các tuyến đó cho ai và có thể làm việc với đội ngũ của mình để điều chỉnh thứ tự giao hàng nếu muốn.”

Amazon cũng cho biết thông điệp yêu cầu tài xế tin tưởng tuyến đường giao hàng chỉ là khuyến nghị chứ không phải mệnh lệnh bắt buộc.

Công ty nhấn mạnh rằng hệ thống camera được triển khai nhằm bảo vệ tài xế.

Theo Amazon, hình ảnh từ camera “chỉ được một số lượng hạn chế nhân viên đã qua đào tạo xem xét sau khi xảy ra một sự cố an toàn cụ thể” và camera có thể được tắt trong thời gian nghỉ.

“Các DSP và tài xế có quyền khiếu nại bất kỳ nội dung nào mà họ cho là phản ánh không chính xác sự việc,” công ty cho biết.

Amazon cũng nói họ không yêu cầu tài xế giao hàng tại những nơi mà họ cảm thấy không an toàn. Công ty cung cấp chương trình đào tạo tránh chó tấn công và tích hợp chức năng đánh dấu sự hiện diện của chó trong ứng dụng.

Về các điều khoản hợp đồng, Amazon cho biết:

“Các DSP điều hành doanh nghiệp của riêng mình và các hợp đồng mà chúng tôi ký với họ khá phổ biến trong toàn ngành nhằm bảo đảm tính an toàn và độ tin cậy.”

Công ty nói họ không ngăn cản các DSP tìm kiếm khách hàng ngoài Amazon hoặc tiếp tục trả lương cho những tài xế không được phép giao hàng của Amazon để thực hiện các công việc khác.

Khi ra làm chứng vào mùa Thu năm ngoái, Ervin mô tả áp lực khi phải đáp ứng các chỉ tiêu giao hàng hằng ngày của Amazon. Ông biết rằng khoản thanh toán trên mỗi kiện hàng sẽ bị giảm nếu công ty chỉ đánh giá hiệu suất ở mức “fantastic” thay vì mức cao hơn là “fantastic-plus”.

Ông nhớ lại việc Amazon liên tục chất vấn mình trong giờ làm của tài xế về lý do họ bị chậm tiến độ. Công ty cho rằng các tài xế đã “dừng lại quá nhiều” và đôi khi còn vượt quyền ông để điều động các tài xế khác hỗ trợ hoàn thành chỉ tiêu.

Ervin khai rằng cấp phó của ông, người thay mặt ông tham gia một khóa đào tạo do Ogletree Deakins tổ chức, đã kể lại rằng giảng viên cảnh báo: “Hợp đồng của anh sẽ gặp nguy hiểm nếu các tài xế thành lập công đoàn.”

Ogletree Deakins không phản hồi các câu hỏi từ Businessweek.

Ervin cũng khai rằng các “huấn luyện viên” của Amazon thường xuyên quyết định mục tiêu kinh doanh cho công ty của ông.

“Họ sẽ nói: ‘Chúng tôi nghĩ đây là một mục tiêu tốt.’ Tôi nói: ‘Tôi không nghĩ vậy.’ Và họ đáp: ‘Dù sao anh vẫn phải làm.’”

Sau khi Ervin làm chứng về việc Amazon có quyền tiếp cận rất sâu vào hồ sơ tài chính của Battle-Tested Strategies, một luật sư của Teamsters hỏi:

“Ông có quyền tiếp cận tương tự đối với hồ sơ của Amazon không?”

Ervin trả lời:

“Không.”

Trong phần đối chất, luật sư Stolzenbach của Amazon chỉ ra rằng dù Ervin từng nói với các tài xế muốn tăng lương rằng ông phải hỏi Amazon để có thêm ngân sách, hợp đồng của ông thực tế không cấm ông tự bỏ tiền túi để nâng lương cho nhân viên lên 25 USD mỗi giờ.

Stolzenbach lập luận rằng mối quan hệ giữa Amazon và Ervin phần nào giống mối quan hệ giữa Ervin với các nhà thầu mà ông thuê thực hiện nhiều công việc khác nhau.

“Khi Battle-Tested Strategies ký hợp đồng mua dịch vụ hoặc sản phẩm từ một công ty khác, Battle-Tested Strategies có kỳ vọng công ty đó thực hiện đúng hợp đồng hay không?” luật sư hỏi.

Ervin đáp:

“Nếu tôi mua thứ gì đó thì đúng, tôi kỳ vọng họ giao món hàng đó cho tôi.”

“Nhưng tôi sẽ không bắt nạt họ.”

Các công tố viên của NLRB đã tiến gần hơn bao giờ hết đến một phán quyết có thể buộc Amazon phải chịu trách nhiệm đối với các tài xế hợp đồng.

Sau đó, họ bất ngờ rút lui.

Một tuần trước lễ Giáng sinh, Thượng viện Mỹ phê chuẩn Crystal Carey, đối tác tại hãng luật đại diện cho giới chủ Morgan, Lewis & Bockius, để thay thế Cowen ở vị trí tổng cố vấn NLRB.

Trước đó, Carey từng đại diện cho Amazon khi còn là luật sư tại Morgan Lewis, nơi hiện vẫn tiếp tục phục vụ khách hàng là Amazon.

Việc đề cử bà vấp phải sự phản đối từ công đoàn Teamsters. Chủ tịch công đoàn này từng có bài phát biểu gây chú ý tại Đại hội Toàn quốc của đảng Cộng hòa năm 2024.

Đề cử của Carey cũng khiến thượng nghị sĩ Cộng hòa Josh Hawley của bang Missouri bày tỏ hoài nghi.

Ông đặt câu hỏi liệu Carey có thực thi các tiền lệ pháp lý hiện hành hay không, bao gồm phán quyết mang tính bước ngoặt năm 2024 chống lại Amazon. Phán quyết đó cấm các cuộc họp bắt buộc nhằm tuyên truyền chống công đoàn.

Cuối cùng, Hawley vẫn bỏ phiếu ủng hộ bà.

Trong cuộc phỏng vấn với Businessweek vào tháng 2, Carey cho biết thỏa thuận đạo đức nghề nghiệp mà bà ký khi nhận chức tại NLRB không yêu cầu bà phải rút khỏi các vụ việc liên quan đến Amazon, bao gồm vụ Battle-Tested Strategies.

Theo bà, đã hơn một năm kể từ lần cuối bà đại diện cho Amazon. Dù hãng luật của bà vẫn làm việc cho công ty này, họ không tham gia vụ việc cụ thể đó.

Carey nói rằng việc rút lui khỏi hồ sơ được xem xét theo từng vụ việc riêng biệt.

Khi được hỏi liệu tiêu chuẩn đó đã đủ hay chưa, bà cho biết mình đang “làm việc rất chặt chẽ” với văn phòng đạo đức của NLRB và tham khảo khuyến nghị từ đội ngũ này “bất cứ khi nào có thắc mắc”.

Dù Morgan Lewis không đại diện cho Amazon trong vụ việc tại NLRB, hãng luật này đang bảo vệ công ty trong vụ kiện của Ervin tại California, nơi cũng cáo buộc Amazon kiểm soát Battle-Tested Strategies ở mức độ sâu rộng.

Amazon đã đưa vụ kiện đó sang trọng tài.

Người phát ngôn NLRB từ chối bình luận thêm.

Ngày 12.4, một ngày trước khi phiên điều trần tại NLRB dự kiến tiếp tục, một luật sư thuộc nhóm của Carey đã gửi cho thẩm phán dự thảo thỏa thuận dàn xếp mà văn phòng của bà đã thương lượng với Amazon.

Theo thỏa thuận này, Amazon sẽ trả cho các tài xế cũ của Ervin khoản tiền tương đương hai tuần lương và đăng thông báo tại kho hàng cam kết không đe dọa hoặc trả đũa người lao động.

Đổi lại, công ty không phải thừa nhận bất cứ điều gì liên quan đến việc liệu họ có phải là người sử dụng lao động của các tài xế hay không.

Amazon cũng không phải thừa nhận hành vi sai phạm và sẽ không bị xem là đồng chủ sử dụng lao động.

Phiên điều trần trực tuyến qua Zoom được tổ chức gấp vào ngày hôm sau tạo cảm giác khá gượng gạo.

Yasseri, luật sư NLRB từng mở đầu phiên tòa bằng những phát biểu cứng rắn về trách nhiệm giải trình, giờ đây giải thích rằng “theo chỉ đạo của tổng cố vấn” tức Carey, bà đang đề nghị phê duyệt thỏa thuận dàn xếp mà Amazon đã đồng ý từ trước.

Giọng nói của Yasseri run nhẹ. Bà chủ yếu cúi nhìn ghi chú khi phát biểu.

Giữa chừng, bà lắc đầu và dừng lại vài giây trước khi nói rằng việc Amazon không bị xác định là đồng chủ sử dụng lao động không phải lý do để bác bỏ thỏa thuận.

Theo bà, ngay cả khi xác định trách nhiệm pháp lý, điều đó cũng chưa chắc dẫn đến bất kỳ biện pháp khắc phục cụ thể nào.

Yasseri lưu ý rằng NLRB từng kết luận Amazon vi phạm pháp luật ở những nơi khác, bao gồm vi phạm một thỏa thuận dàn xếp trước đó.

Tuy nhiên, chưa từng có phán quyết tương tự nào đối với kho hàng tại Palmdale.

Stolzenbach lặp lại các lập luận của Yasseri.

Ông nói rằng việc nhận tiền ngay lập tức có lợi hơn cho người lao động so với việc kéo dài vụ việc thêm nhiều năm trong lúc Amazon theo đuổi hết cấp kháng cáo này đến cấp kháng cáo khác.

Ông nói thêm:

“Nếu Tòa Phúc thẩm không đồng ý với Amazon thì Amazon sẽ đề nghị Tòa án Tối cao xem xét vụ việc.”

Theo Stolzenbach, dàn xếp cũng giúp NLRB tiết kiệm những “nguồn lực vốn đã căng thẳng” để xử lý các vụ việc khác.

Khi đến lượt phát biểu, Julie Gutman Dickinson, luật sư của Teamsters, lên án thỏa thuận này là một cuộc “đánh úp”.

Bà gọi đây là một thỏa thuận “không hiệu quả” và “đầu hàng” trước Amazon, được thúc đẩy bởi một tổng cố vấn “chịu ảnh hưởng của các tỉ phú doanh nghiệp, bao gồm cả khách hàng cũ của mình”.

Gutman Dickinson cho rằng thay vì giải quyết vấn đề, việc tiếp tục để Amazon né tránh trách nhiệm đối với các tài xế sẽ làm suy yếu việc thực thi luật lao động trên toàn nước Mỹ.

“Thỏa thuận đơn phương này gửi tới người lao động trên khắp đất nước một thông điệp rõ ràng rằng Amazon đứng trên pháp luật.”

Ngày 18.5, thẩm phán hành chính của NLRB phụ trách vụ việc phán quyết rằng thỏa thuận nên được phê duyệt.

Ông lưu ý rằng theo tiền lệ của NLRB, “sự ủng hộ của Tổng cố vấn đối với thỏa thuận dàn xếp là một yếu tố quan trọng cần xem xét”.

Ngày 28.5, công đoàn đã nộp đơn kháng cáo quyết định này lên các thành viên NLRB tại Washington, hội đồng hiện chủ yếu gồm những người được Tổng thống Trump bổ nhiệm.

Andrew Elmore, giáo sư luật tại Đại học Boston và cựu trưởng bộ phận thuộc văn phòng tổng chưởng lý bang New York, cho rằng bằng chứng cho thấy Amazon là đồng chủ sử dụng lao động “mạnh một cách bất thường”.

Ông đã xem xét hàng trăm hợp đồng giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp và bên nhận quyền thương mại.

“Tôi chưa biết vụ việc nào khác tiết lộ nhiều đến vậy về mối quan hệ” giữa Amazon và các DSP, ông nói.

“Việc không đưa ra được kết luận cuối cùng sẽ gửi tín hiệu tới các doanh nghiệp rằng họ có thể tiếp tục xây dựng những mối quan hệ hợp đồng kiểu này mà không phải lo ngại hậu quả.”

Hiện tại, Teamsters và các đồng minh đang thúc đẩy các dự luật tại New York và Chicago nhằm làm lung lay mô hình DSP theo một hướng khác.

Các dự luật này yêu cầu những công ty như Amazon phải xếp các tài xế giao hàng hoạt động trong phạm vi thành phố là nhân viên trực tiếp.

Dự luật tại New York nhận được sự bảo trợ của đa số thành viên hội đồng thành phố và được cơ quan bảo vệ người lao động của thị trưởng Zohran Mamdani ủng hộ.

Amazon cho biết công ty lo ngại dự luật này sẽ đe dọa việc làm và gây thiệt hại cho khách hàng bằng cách “buộc chúng tôi phải cân nhắc chuyển hoạt động giao hàng ra ngoài thành phố”.

Tháng 4, hàng trăm tài xế Amazon và các nhà hoạt động, một số ủng hộ dự luật và một số phản đối, đã tập trung tại Manhattan để tổ chức các cuộc biểu tình đối đầu trước khi lấp kín phòng họp của hội đồng thành phố trong phiên điều trần.

Bên ngoài địa điểm tổ chức, một số chủ DSP cho biết họ xem mình là đối tác của Amazon và công ty luôn phản hồi khi họ đề xuất thay đổi.

“Amazon đúng là kiểm tra để bảo đảm chúng tôi tuân thủ pháp luật và các quy định,” chủ DSP Christine Chan nói.

“Nhưng tôi điều hành doanh nghiệp của riêng mình.”

Bà so sánh mối quan hệ này với mô hình nhượng quyền trong ngành thức ăn nhanh.

Một số nhân viên giao hàng bên ngoài phiên điều trần nói với Businessweek rằng DSP của họ đã trả tiền và khuyến khích họ tham gia biểu tình phản đối dự luật.

Họ lo ngại sẽ mất việc nếu dự luật được thông qua.

“Tôi được thông báo rằng sinh kế của mình đang bị đe dọa và tôi phải có mặt,” một tài xế giấu tên vì lo sợ bị trả đũa cho biết.

“Kiếm việc ở đây rất khó.”

Các cuộc biểu tình diễn ra chỉ vài tuần sau khi Amazon phát động một cuộc thi dành cho tài xế DSP trên toàn nước Mỹ.

Công ty trao giải thưởng trị giá 1.000 USD cùng các “trải nghiệm VIP” cho những người có câu chuyện hay nhất về lý do họ yêu thích công việc của mình.

Thể lệ cuộc thi cho biết các bài dự thi chiến thắng sẽ được lựa chọn dựa trên nhiều tiêu chí, trong đó có “những chi tiết chân thực, cụ thể, phản ánh trải nghiệm sống thực tế”.

Amazon cho biết cuộc thi được tổ chức nhằm tôn vinh các tài xế trên khắp đất nước.

Công ty khẳng định chưa bao giờ có ý định sử dụng các bài dự thi của người lao động để phản đối các dự luật hoặc phục vụ các vụ kiện tụng.

Leib with his son.Photographer Stella Kalinina for Bloomberg Businessweek
Leib cùng con trai của mình. Hình ảnh: Stella Kalinina/Bloomberg Businessweek

Một số tài xế vẫn tiếp tục nỗ lực thành lập công đoàn cùng Teamsters. Công đoàn này cho biết họ đã thu thập được sự ủng hộ của đa số nhân viên tại vài chục DSP ở California, Georgia, Illinois và New York để khởi động các chiến dịch tổ chức công đoàn.

Tuy nhiên, chưa có chủ DSP nào khác đồng ý công nhận công đoàn và Amazon cũng vậy.

Người lao động cho biết Amazon và các DSP đã triển khai hàng loạt biện pháp nhằm ngăn cản hoạt động công đoàn. Những biện pháp đó bao gồm cử các chuyên gia tư vấn chống công đoàn đi cùng tài xế trong ca làm việc, treo các thông điệp tuyên truyền trong nhà vệ sinh của kho hàng và phát thẻ quà tặng Amazon trị giá 20 USD.

Ervin và Teamsters cho biết họ thường xuyên nhận được liên lạc từ các chủ DSP bất mãn khác dù những người này chưa sẵn sàng công khai chỉ trích Amazon.

Tháng 11, một nhóm mang tên DSPs for Equitable and Fair Treatment xuất hiện công khai với mục tiêu tập hợp các chủ doanh nghiệp có cùng quan điểm. Tuy nhiên, những người tổ chức vẫn giữ kín danh tính vì lo sợ bị trả đũa.

Trong tuyên bố gửi Businessweek, Amazon cho biết đại đa số DSP “đang điều hành những doanh nghiệp thành công và có lãi”. Công ty nói tỉ lệ các DSP tự nguyện rời chương trình “vẫn ở mức một chữ số”.

Amazon cũng cho biết để giúp người lao động tiếp cận thông tin chính xác trước những gì công ty gọi là thông tin sai lệch hoặc hành vi đe dọa từ phía công đoàn, họ mời các chuyên gia tới “chia sẻ những sự thật khách quan về việc để một bên bên ngoài đại diện tiếng nói của họ thực sự có ý nghĩa gì”.

Công ty khẳng định “không có bằng chứng” cho thấy Teamsters đã thu được thẻ ủng hộ công đoàn từ đa số người lao động tại bất kỳ DSP nào.

Teamsters đã nộp đơn khiếu nại lên NLRB, cáo buộc Amazon chấm dứt hợp đồng với một số DSP vì người lao động tại đó tổ chức công đoàn.

Số phận của các vụ việc này hiện cũng nằm trong tay Carey.

Những thay đổi gần đây khác của bà tại NLRB bao gồm bác bỏ phản đối của Công đoàn Công nhân Ô tô Mỹ để dàn xếp một vụ việc liên quan đến cáo buộc Mercedes-Benz Group AG ngăn cản hoạt động công đoàn trước một cuộc bầu cử quan trọng năm 2024.

Bà cũng chấm dứt nỗ lực của Cowen nhằm hủy kết quả thất bại của một cuộc bỏ phiếu công đoàn tại chi nhánh Wells Fargo & Co. với lý do ngân hàng đã can thiệp trái phép vào quyền của người lao động.

Mercedes-Benz, Wells Fargo và Amazon đều phủ nhận các cáo buộc sai phạm.

Jerome Sloss, một tài xế DSP đang vận động cho dự luật tại New York, từng phát biểu trước tòa thị chính về việc ông phải sống trong cảnh vô gia cư dù làm việc cho Amazon.

“Không có cách nào vừa làm việc an toàn vừa hoàn thành đúng thời hạn,” Sloss nói.

Ông bắt đầu tổ chức vận động tại DSP của mình sau khi nhận ra kênh chính thức để tài xế phản hồi ý kiến với Amazon “cũng vô dụng như giấy vệ sinh”.

Ông cho rằng các tài xế phải tự đứng lên bảo vệ quyền lợi của mình.

“Chẳng có ai đến cứu chúng tôi cả.”

Amazon cho biết công ty coi trọng và hành động dựa trên phản hồi từ các tài xế.

Ervin nói quãng thời gian làm chủ DSP đã đảo lộn cuộc sống và tình hình tài chính của ông.

“Tôi đã trải qua rất nhiều chuyện trong vài năm qua,” ông nói trong phần đối chất, bao gồm cả việc mất nhà.

“Tôi đang khá tan nát, dù nhìn bề ngoài có thể không như vậy.”

Trong đơn kiện tại California, Ervin cáo buộc những gì xảy ra với Amazon đã khiến ông phải chịu “sự nhục nhã” và “đau khổ”.

Tuy nhiên, ông nói mình không hối hận vì đã đứng lên bảo vệ bản thân và các tài xế.

“Đến ngày bước qua Cổng Thiên Đàng, nếu thật sự có ai đó ở trên đó, họ sẽ không hỏi: ‘Này anh bạn, anh đã giao được bao nhiêu kiện hàng?’”

Ervin cho rằng sự tập trung gần như tuyệt đối của Amazon vào triết lý “ám ảnh vì khách hàng” phải trả giá bằng những hệ lụy lớn.

“Rất nhiều tài xế của tôi cũng là khách hàng của Amazon. Sẽ thật tuyệt nếu Amazon cũng quan tâm đến họ như vậy.”

Trong lúc theo đuổi các vụ kiện với nhiều thăng trầm, Ervin cũng cố gắng xây dựng một doanh nghiệp mới mang tên Battle-Tested Foods.

Gần đây, ông đón nhận bước ngoặt lớn đầu tiên.

Ông sẽ trở thành nhà cung cấp bắp rang cho Walmart.

Theo Bloomberg

Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn

https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/ong-trump-da-mang-lai-dieu-gi-cho-amazon-58385.html

#Amazon
#đối tác
#GIAO HÀNG
#lao động
#công đoàn
#tài xế