Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Chuyên mục
Media
Báo cáo đặc biệt
Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Khám phá nhiều hơn với tài khoản
Đăng nhập để lưu trữ và dễ dàng truy cập những bài viết bạn yêu thích trên Bloomberg Businessweek Việt Nam.
BBWV - Nhiều phụ huynh ngày nay xem việc nuôi dạy con cái như một dự án đầu tư dài hạn, kéo theo áp lực ngày càng lớn về thời gian và tiền bạc.
Ula Zuhra minh họa cho Bloomberg.
Tác giả: Jackie Bischof
10 tháng 05, 2026 lúc 6:30 AM
Tóm tắt bài viết bởi
Chính bức vẽ con đại bàng đã khiến tôi phải khựng lại.
Cậu con trai của tôi, đứa trẻ từng chỉ vẽ được vài nét nguệch ngoạc cho bức “tự họa” ở lớp mẫu giáo, giờ đây liên tục tạo ra hàng chục bức tranh về những thứ mình say mê. Nào là tàu hỏa và cầu cho đến nhà chọc trời và động vật.
Những bức vẽ có độ chi tiết rất đáng kinh ngạc. Có chiếc máy bay được vẽ như một mê cung Zentangle với vô số hình ảnh ẩn bên trong. Gần đây, con còn bắt đầu đưa chiều sâu và phối cảnh vào tranh với độ tinh tế vượt xa tuổi. Nhưng chính lần thằng bé tự nhiên thử sức với tranh chân dung động vật mới thật sự khiến tôi dừng lại suy nghĩ. Con đại bàng được tô bóng mềm mại, từng sợi lông mảnh hiện lên rõ ràng, ánh mắt có thần đến lạ. Con trai tôi lúc đó vừa tròn 6 tuổi..
Niềm tự hào trong tôi đi kèm với một cảm giác trách nhiệm âm ỉ. Nếu con thực sự sở hữu năng khiếu đặc biệt, trách nhiệm của tôi là gì? Chỉ mua cho con vài cây bút chì đẹp và vỗ vai động viên như trước giờ? Hay nên đưa con đến triển lãm, cho học lớp mỹ thuật và bắt đầu nghiêm túc nghĩ đến chuyện phát triển tài năng ấy?
Những câu hỏi đó khiến tôi căng thẳng. Chúng cũng phản ánh rất rõ áp lực làm cha mẹ trong thế kỷ 21. Phụ huynh, đặc biệt là các bà mẹ, đang phải dành ngày càng nhiều thời gian, tiền bạc và năng lượng cho con cái. Nhiều người trong chúng ta luôn nghe thấy một giọng nói trong đầu: “Liệu mình đã làm đủ chưa?” Nhưng đủ để làm gì mới được? Chính câu hỏi ấy khiến tôi muốn hiểu xem việc nuôi dạy con đã thay đổi ra sao và vì sao tài năng của con trai tôi vừa giống một món quà, vừa giống một bài kiểm tra.

Việc làm cha mẹ đã thay đổi như thế nào
Khi đang xoay xở giữa guồng quay chăm con, người ta rất dễ quên rằng việc làm cha mẹ chưa bao giờ tồn tại tách biệt. Nó luôn gắn liền với những biến chuyển lớn về xã hội, kinh tế và chính trị trong suốt hơn 100 năm qua.
Vào cuối thế kỷ 19, khi các đạo luật cấm lao động trẻ em được ban hành, hệ thống phúc lợi tại các nước công nghiệp phát triển hơn và ngày càng nhiều trẻ em được đi học, giá trị của trẻ em trong gia đình bắt đầu thay đổi. Theo nhà xã hội học Viviana Zelizer, tác giả cuốn Pricing the Priceless Child xuất bản năm 1985, trẻ em dần thôi được đánh giá dựa trên khả năng đóng góp kinh tế cho gia đình. Thay vào đó, các em trở thành nguồn ý nghĩa cảm xúc và được trân trọng như một tiềm năng cho tương lai.
Tuy nhiên, gần đây, một dạng tư duy kinh tế khác lại bắt đầu len vào việc nuôi dạy con, theo lập luận của nhà xã hội học kinh tế Nina Bandelj trong cuốn Overinvested: The Emotional Economy of Modern Parenting do Nhà xuất bản Đại học Princeton phát hành. Bandelj, giáo sư tại Đại học California, Irvine, cho rằng chúng ta đang bước vào một giai đoạn mới của “đầu tư làm cha mẹ”, nơi con cái ngày càng được nhìn như một dạng vốn con người.
Trẻ em được xem như tài sản kinh tế tương lai, với giá trị nằm ở kỹ năng, học vấn và bằng cấp mà chúng tích lũy được. Sự thay đổi ấy thể hiện qua mức chi tiêu ngày càng lớn của cả chính phủ lẫn phụ huynh cho giáo dục, chăm sóc trẻ và các hoạt động phát triển kỹ năng, đặc biệt ở các nước phát triển.
Đây là một sự thay đổi rất lớn, xuất phát từ nhiều lực đẩy khiến cha mẹ dần xem mình là nhân tố chính quyết định tương lai của con cái, đồng thời coi việc nuôi dạy con như một phần cốt lõi trong bản sắc cá nhân. Từ “parenting” với nghĩa “làm cha mẹ” thậm chí chỉ mới trở nên phổ biến vào cuối thập niên 1950.
“Một thế kỷ trước, trẻ em lao động vì gia đình. Ngày nay, cha mẹ lao động vì con cái. Và không chỉ là kiếm tiền. Chúng ta lao lực vì việc nuôi dạy con,” Bandelj nói với tôi. “Việc giúp con phát huy tiềm năng và chăm lo cho sức khỏe tinh thần của chúng đã trở thành một công việc vô cùng mệt mỏi.”
Trong cuốn sách, Bandelj chỉ ra hàng loạt yếu tố thúc đẩy sự thay đổi ấy, từ những tiến bộ trong hiểu biết về sự phát triển não bộ thời thơ ấu, sự trỗi dậy của chủ nghĩa tiêu dùng và xu hướng cá nhân hóa, cho đến ảnh hưởng của mạng xã hội đối với phụ huynh trên toàn thế giới.
Bà cho rằng “kinh tế hóa”, tức việc tư duy tài chính ngày càng thâm nhập vào đời sống, cùng với “cảm xúc hóa”, khi cảm xúc ngày càng trở thành trung tâm của bản sắc cá nhân, đã kết hợp với nhau. Kết quả là việc làm cha mẹ tốt bị biến thành cuộc chạy đua đầu tư ngày càng nhiều thời gian, tiền bạc và công sức.
Các doanh nghiệp nhanh chóng tận dụng xu hướng này và liên tục tung ra vô số lựa chọn để phụ huynh “định hình” con cái theo nhiều cách khác nhau, thường đi kèm mức chi phí rất cao. Những gia đình có điều kiện đang đổ hàng tỉ USD vào việc thuê gia sư, huấn luyện viên và các hoạt động ngoại khóa để làm đẹp hồ sơ cho con.
Trong nhiều trường hợp, cha mẹ phải tự mình đưa ra các quyết định ấy và cũng chính họ phải gánh trách nhiệm tài chính cho mọi khoản đầu tư vào con cái.
“Quan niệm rằng mỗi cá nhân phải tự chịu trách nhiệm cho mọi mặt trong cuộc sống đã ăn sâu vào văn hóa gia đình và cách chúng ta nhìn nhận vai trò của mình,” Sunnee Billingsley, giáo sư xã hội học tại Đại học Stockholm, người nghiên cứu về xu hướng nuôi dạy con cường độ cao, cho biết. “Khi điều đó đi kèm với bất bình đẳng gia tăng và cơ hội đổi đời ngày càng ít, cảm giác lo lắng và bất an cũng bị đẩy lên rất mạnh.”
Đặt trong bối cảnh ấy, kiểu “nuôi dạy con cường độ cao” có lẽ ít giống một dạng ám ảnh thần kinh và giống phản ứng khá hợp lý trước những biến đổi xã hội hơn.
“Những hệ quả tai hại”
Kiểu “nuôi con tăng lực”, như cách Bandelj gọi trong sách, có thể dẫn đến những hệ quả hết sức sâu rộng. Trước hết, nó tạo ra “mức độ lo âu rất lớn cho nhiều bậc cha mẹ”, theo Emily Oster, nhà kinh tế học và CEO nền tảng nghiên cứu ParentData dành cho phụ huynh.
“Chúng ta muốn con mình có mọi cơ hội tốt nhất có thể và không muốn cảm thấy rằng chính điều mình làm đã ngăn cản chúng đạt được ước mơ.”
Áp lực ấy trong gia đình thường phân bổ rất không đồng đều. Phụ nữ thường là người gánh phần lớn khối lượng công việc này, từ lên lịch, theo dõi, tìm hiểu, lo lắng và cố gắng trở thành một “người mẹ tốt”.
“Mạng xã hội cùng ngành công nghiệp nuôi dạy con trị giá hàng tỉ USD đã đẩy kỳ vọng dành cho các bà mẹ lên cao hơn bao giờ hết. Người mẹ giờ đây không chỉ nuôi con mà còn phải biến con cái thành trung tâm của cả cuộc đời mình,” Bandelj viết.
Điều đó khiến phụ nữ phải đánh đổi nhiều cơ hội cá nhân, từ tình trạng quá tải tinh thần cho tới sự chững lại trong sự nghiệp. Chồng tôi cũng rất ủng hộ năng khiếu của con trai, nhưng anh thiên về việc để mọi thứ phát triển tự nhiên thay vì chủ động thúc đẩy chúng.
Mạng xã hội chỉ là một trong rất nhiều nơi khiến việc làm mẹ trở nên khó khăn. Từ phòng khám bác sĩ tới cổng trường, các bà mẹ luôn phải đối diện với “ánh nhìn đánh giá về mọi điều bạn làm hay nói”, theo Yana Kuchirko, phó giáo sư tâm lý học tại Brooklyn College. Vì thế, bà thường nghe các bà mẹ than thở rằng: “Tôi yêu việc được làm mẹ. Nhưng tôi ghét cảm giác phải làm mẹ.”
Khó khăn này còn nghiêm trọng hơn với các gia đình thu nhập thấp khi họ phải dành tỉ lệ thu nhập lớn hơn cho giáo dục và chăm sóc trẻ. Họ cũng dễ bị đánh giá khắt khe hơn về mức độ đầu tư cho con cái.
“Giai tầng xã hội ảnh hưởng rất lớn tới khả năng của một gia đình trong việc tránh bị các thiết chế soi xét hoặc đầu tư cho con theo cách được xem là ‘phụ huynh tốt’ trong chuẩn mực văn hóa,” Kuchirko nói.
Năm 2015, Daniel Markovits, giáo sư Trường Luật Yale, đã có một bài phát biểu tốt nghiệp gây tiếng vang trước sinh viên Đại học Yale. Ông thừa nhận tài năng và nỗ lực của họ, nhưng đồng thời chỉ ra rằng chính cha mẹ của những sinh viên này đã tạo nên một sân chơi bất bình đẳng để họ có thể vượt trội.
“Chế độ trọng dụng nhân tài từng là động lực cho sự dịch chuyển xã hội ở Mỹ. Nhưng ngày nay, nó đang cản trở bình đẳng cơ hội,” ông nói, đồng thời cho rằng nó đã trở thành “cơ chế truyền đời của tài sản và đặc quyền”.
Ông tiếp tục phát triển lập luận này trong cuốn The Meritocracy Trap xuất bản năm 2019, mô tả tầng lớp chuyên môn như đang mắc kẹt trong một vòng cạnh tranh độc hại và áp lực cao, qua đó càng củng cố những bất lợi vốn có.
Hiện tại, Markovits cho rằng cuộc đua thành tích đã khiến nước Mỹ phải trả giá đắt, thể hiện qua tỉ lệ lo âu lâm sàng, trầm cảm và lạm dụng chất kích thích ở trẻ em giàu có ngày càng cao. Dù thừa nhận rất khó chứng minh mối liên hệ nhân quả trực tiếp, ông nói mình “hoàn toàn tin rằng đây là phản ứng dễ hiểu, gần như không thể tránh khỏi trước những áp lực gắn liền với kiểu tuổi thơ này.”
Giới hạn của sự đầu tư
Tất cả những điều này dẫn đến một câu hỏi căn bản: Liệu chúng ta thực sự giúp được con cái bao nhiêu khi biến sở thích của chúng thành các dự án cần được nuôi dưỡng và phát triển?
Nghiên cứu cho thấy môi trường gia đình và sự chăm sóc ổn định có vai trò cực kỳ quan trọng trong những năm đầu đời. Nhưng sau giai đoạn đó, bằng chứng bắt đầu kém rõ ràng hơn.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hoạt động ngoại khóa có thể gây tác động tiêu cực nếu chúng lấn át thời gian chơi tự do, giao lưu với bạn bè hay ngủ đủ giấc. Việc con bạn chơi được Chopin đúng là rất tuyệt, nhưng nếu chúng không biết làm gì khi cãi vã với bạn bè, những vấn đề khác có thể xuất hiện về sau.
Theo Oster, sở thích cá nhân giúp trẻ phát triển khả năng tự kiểm soát, tính kỷ luật, sự tự tin và động lực nội tại. Quan trọng hơn cả, chúng mang lại cho trẻ cơ hội “cảm thấy mình thuộc về một nơi nào đó”.
Nhưng cũng như mọi thứ khác trong cuộc sống, sự điều độ mới là chìa khóa. Cha mẹ phải giữ được thế cân bằng mong manh giữa việc hỗ trợ con tham gia hoạt động và việc đẩy mọi thứ đi quá xa. Điều này đặc biệt khó khăn khi một đứa trẻ bộc lộ tài năng hoặc muốn bỏ cuộc trước thời điểm mà cha mẹ cho là phù hợp.
Cuối cùng, sự thành công của một đứa trẻ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có những thứ như gene di truyền, bạn bè, may mắn hay những gì diễn ra ở trường học từng phút mỗi ngày, vốn nằm ngoài tầm kiểm soát của cha mẹ bất kể họ đầu tư bao nhiêu thời gian và tiền bạc.
“Con bạn có thể tiến bộ ở hầu hết hoạt động nếu chúng bỏ nhiều công sức, nên theo nghĩa đó bạn vẫn có thể tác động tới trải nghiệm của chúng,” Oster nói. “Nhưng nếu câu hỏi là làm sao nuôi dạy một đứa trẻ thật sự thuộc nhóm xuất sắc hàng đầu trong một lĩnh vực nào đó, bạn sẽ cần cả năng khiếu bẩm sinh lẫn sự bồi dưỡng.”
Bandelj khuyến khích cha mẹ nhìn nhận sở thích của con như cách giúp trẻ phát triển tính độc lập và tự do thay vì xem đó là một dạng chứng chỉ thành tích, và sẵn sàng buông bỏ khi những hoạt động ấy trở nên quá áp lực. Bà thừa nhận điều này đặc biệt khó khăn với những phụ huynh xuất thân từ tầng lớp lao động, những người đặt hy vọng vào các khoản đầu tư ấy để mở ra cơ hội thành công trong tương lai cho con cái.
Nhưng, theo bà, những đứa trẻ cũng sẽ chịu ảnh hưởng khi cha mẹ kiệt sức. Bandelj nhắc tới lời cảnh báo chưa từng có của Tổng Y sĩ Mỹ năm 2024 về tình trạng kiệt quệ ở phụ huynh. Khi các hoạt động và áp lực phải tham gia chúng bắt đầu ảnh hưởng đến cách cả gia đình vận hành, “đó có lẽ là tín hiệu báo động nghiêm trọng.”
Hãy để trẻ được là chính mình
Việc tôi bắt đầu tự chất vấn những áp lực này ảnh hưởng đến bản thân và gia đình mình ra sao, điều mà dường như rất nhiều bà mẹ khác cũng đang làm nếu nhìn vào mạng xã hội, đã phần nào giúp tôi bớt lo lắng hơn.
“Các bà mẹ trước đây vốn đã gặp khó khăn trong việc nuôi con, nhưng giờ áp lực thêm vào này khiến mọi thứ còn nặng nề hơn,” Billingsley từ Đại học Stockholm nói. “Điều rất quan trọng, đặc biệt là với phụ nữ, là phải thường xuyên quay lại với câu hỏi: ‘Mình có ổn không và mình có đang nhận được điều mình cần không?’”
Nhưng vậy còn con trai tôi thì sao?
Oster cho rằng cách tốt nhất là cha mẹ nên đi theo sự dẫn dắt của con trong việc tìm kiếm những hoạt động khiến chúng cảm thấy an toàn, vui vẻ và được hỗ trợ; giữ sự cân bằng giữa các hoạt động khác nhau; và nhìn vào bức tranh dài hạn.
“Khi tôi khảo sát phụ huynh về mục tiêu lâu dài dành cho con, kiểu vài chục năm sau, điều họ nói nhiều nhất gần như luôn là muốn con yêu quý mình, muốn chúng vẫn về nhà dành thời gian với gia đình,” bà nói. “Điều đó không mâu thuẫn với việc muốn con giỏi bóng đá, nhưng nó giúp chúng ta nhớ rằng giỏi bóng đá không phải là mục tiêu duy nhất.”
Là một người mẹ, Bandelj luôn tự nhắc nhở bản thân bằng câu nói: “Con tôi không phải một dự án đầu tư. Việc nuôi dạy con không nên khiến cả hai kiệt sức.” Cuốn sách của bà kết thúc bằng lời kêu gọi biến việc nuôi dạy trẻ trở lại thành nỗ lực tập thể, nơi chúng ta cùng cải thiện điều kiện xã hội để mọi đứa trẻ đều có cơ hội thành công, chứ không chỉ riêng con mình. “Câu ‘cần cả một ngôi làng để nuôi dạy một đứa trẻ’ nghe có vẻ sáo rỗng, nhưng nó đúng,” bà nói. “Chỉ một phụ huynh không thể thay đổi cả hệ thống. Chúng ta cần cùng nhau thay đổi các chuẩn mực.”
Markovits của Yale cũng cho rằng bối cảnh rộng lớn hơn mới là điều quan trọng. “Quá tập trung vào lựa chọn cá nhân của cha mẹ là một sai lầm lớn,” ông nói. “Các lực tác động mang tính cấu trúc quyết định cả việc con người có những lựa chọn nào lẫn kết quả mà các lựa chọn ấy tạo ra. Và những lực tác động đó, từ hệ thống trường học khác biệt dành cho người giàu và phần còn lại cho tới hoàn cảnh gia đình khác nhau, đều cực kỳ mạnh mẽ.”
“Đúng là một đứa trẻ thật sự xuất chúng vẫn có thể vươn lên gần như bất kể xuất phát điểm là ở đâu,” Markovits nói thêm. “Nhưng phần lớn chúng ta, gần như tất cả chúng ta, đều là những con người bình thường. Một xã hội tốt là một xã hội cho phép những người bình thường vẫn có thể sống và phát triển tốt.”
Còn hiện tại, tôi chọn nghe theo lời khuyên của nhà tâm lý học Alison Gopnik: Hãy là “người làm vườn hơn là thợ mộc”, tập trung nuôi dưỡng tình yêu nghệ thuật chung giữa hai mẹ con, đồng thời khuyến khích con luyện tập chăm chỉ và tự hào về những bức tranh của mình.
May mắn là, ít nhất ở thời điểm này, sự hào hứng của con vẫn chưa bị nỗi lo của tôi làm ảnh hưởng. Bỏ mặc mọi sự dè dặt sang một bên, như cách người ta vẫn làm khi hỏi ý kiến một đứa trẻ 6 tuổi, tôi quyết định bỏ hết dè dặt sang một bên và hỏi con rằng tôi nên hỗ trợ tài năng của con thế nào.
Thằng bé nhìn tôi như thể câu hỏi ấy chính là một bài kiểm tra.
“Con có thể được mua thêm toan để vẽ không?” con hỏi, vẻ mặt đầy khó hiểu, rồi lại cúi xuống cặm cụi vẽ.
Theo Bloomberg
Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn
https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/nuoi-day-con-cai-thoi-hien-dai-va-ap-luc-dau-tu-vo-tan-57765.html
Tặng bài viết
Đối với thành viên đã trả phí, bạn có 5 bài viết mỗi tháng để gửi tặng. Người nhận quà tặng có thể đọc bài viết đầy đủ miễn phí và không cần đăng ký gói sản phẩm.
Bạn còn 5 bài viết có thể tặng
Liên kết quà tặng có giá trị trong vòng 7 ngày.
BÀI LIÊN QUAN