Thâm hụt thương mại gần 14 tỉ USD: Áp lực ngắn hạn từ một chu kỳ mới

BBWV - Mức thâm hụt gần 14 tỉ USD chủ yếu từ nhập khẩu tư liệu sản xuất để chuẩn bị cho một chu kỳ công nghệ mới. Điều này Không đáng lo trước mắt nhưng về lâu dài, là làm sao xây dựng chuỗi giá trị giữa khối FDI và các doanh nghiệp nội địa.

Bên trong một nhà máy điện tử tại Đồng Nai. Nguồn: VNA

Tác giả: Linh Chi

17 tháng 06, 2026 lúc 9:00 AM

Tóm tắt bài viết bởi

logo
  • Trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam ghi nhận thâm hụt thương mại 13,8 tỉ USD do nhập khẩu tăng mạnh 31%, chủ yếu phục vụ chu kỳ công nghệ mới.
  • Nhập khẩu điện tử tăng khoảng 57% trong 5 tháng đầu năm, khi các doanh nghiệp FDI tăng cường linh kiện và chip nhớ phục vụ nhu cầu AI toàn cầu.
  • Ông Michael Kokalari, Kinh tế trưởng VinaCapital, lý giải diễn biến này qua "hiệu ứng đường cong J", khi nền kinh tế cần nhập khẩu trước để tạo ra xuất khẩu sau.
  • Ông Vũ Việt Linh từ Maybank nhận định xuất khẩu mang hình chữ K, khi khối FDI tăng 25% còn khu vực trong nước chỉ tăng vỏn vẹn 2,5%.
  • Việt Nam kỳ vọng quay lại thặng dư vào cuối năm 2026 nhờ xuất khẩu cải thiện và định hướng chọn lọc dòng vốn FDI theo Nghị quyết 10-NQ/TW.

Sau nhiều năm duy trì xuất siêu, Việt Nam đang ghi nhận mức thâm hụt thương mại lớn nhất trong nhiều năm gần đây. Riêng 5 tháng đầu năm 2026, cán cân thương mại âm 13,8 tỉ USD và tình trạng nhập khẩu vượt xuất khẩu đã kéo dài sáu tháng liên tiếp.

Xét về giá trị tuyệt đối, con số này gây chú ý. Tuy nhiên, cấu trúc của dòng hàng hóa cho thấy bức tranh phức tạp hơn: phần lớn thâm hụt hiện tại gắn với nhập khẩu tư liệu sản xuất, đặc biệt là linh kiện điện tử liên quan đến chu kỳ đầu tư cho AI, và phản ánh vai trò ngày càng lớn của khu vực FDI trong thương mại Việt Nam.

Khi nhập khẩu chạy trước xuất khẩu

Thâm hụt thương mại lần này không xuất phát từ sự suy yếu của xuất khẩu. Xuất khẩu vẫn tăng trưởng hai chữ số, nhưng nhập khẩu tăng nhanh hơn đáng kể. Trong năm tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu tăng khoảng 31%, vượt xa tốc độ tăng của xuất khẩu và kéo cán cân từ trạng thái thặng dư sang thâm hụt.

Nếu các chu kỳ trước thường gắn với nhập khẩu máy móc và nguyên liệu cho các ngành truyền thống, động lực hiện nay tập trung rõ vào điện tử. Theo báo cáo kinh tế vĩ mô tháng 5 của VinaCapital, nhập khẩu điện tử tăng khoảng 57% trong 5 tháng đầu năm, khi các doanh nghiệp FDI tăng cường nhập linh kiện và nguyên liệu sản xuất sản phẩm phục vụ nhu cầu AI toàn cầu.

Giá chip nhớ đã tăng hơn 100% kể từ đầu năm. Yếu tố giá được ước tính đóng góp khoảng 8 điểm phần trăm vào mức tăng chung của nhập khẩu, trong khi riêng lượng linh kiện điện tử nhập khẩu bổ sung thêm khoảng 14 điểm phần trăm. Nếu lấy cùng kỳ năm trước làm gốc, nhập khẩu điện tử đã duy trì tốc độ tăng quanh 50% từ tháng 1 đến nay, cao hơn mặt bằng chung của nhiều nhóm hàng khác và vượt cả mức tăng vốn đã cao của tổng nhập khẩu.

Nói cách khác, phần lớn thâm hụt hiện nay không đến từ cầu tiêu dùng nội địa hay sụt giảm xuất khẩu, mà từ việc Việt Nam nhập nhiều hơn các tư liệu sản xuất cho một chu kỳ mở rộng công suất mới, đặc biệt trong lĩnh vực điện tử và công nghệ cao.

Hiệu ứng đường cong J của nền kinh tế

Theo ông Michael Kokalari, Kinh tế trưởng VinaCapital, diễn biến hiện tại có thể được nhìn qua lăng kính “hiệu ứng đường cong J”. Trong mô hình này, nền kinh tế phải nhập khẩu nhiều máy móc, linh kiện và nguyên liệu trước khi các khoản đầu tư đó được chuyển hóa thành sản lượng và xuất khẩu. Cán cân thương mại thường xấu đi trước, rồi mới cải thiện khi năng lực sản xuất mới đi vào vận hành.

Việt Nam từng trải qua các pha tương tự trong giai đoạn dòng vốn đầu tư tăng mạnh cuối những năm 2000. Khi đó, nhập khẩu máy móc và thiết bị tăng nhanh khiến thâm hụt thương mại nới rộng trong ngắn hạn. Sau khi các dự án đi vào sản xuất, xuất khẩu cải thiện và cán cân thương mại quay lại trạng thái tích cực hơn.

Ông Vũ Việt Linh, phó phòng Phân tích Khách hàng Tổ chức của  công ty chứng khoán Maybank, cho rằng mức thâm hụt hiện tại cần được đặt trong tương quan với quy mô xuất khẩu. Ông ước tính quy mô xuất khẩu hiện nay lớn gấp khoảng 15 lần so với năm 2006. Tính theo tỉ lệ, mức thâm hụt tháng 5 năm nay tương đương khoảng 11% giá trị xuất khẩu của tháng, còn lũy kế 5 tháng đầu năm vào khoảng 6% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Nhìn lại dữ liệu lịch sử, những tỷ lệ này không phải ngoại lệ. Trong giai đoạn 2008–2011, tỉ lệ thâm hụt thương mại trên xuất khẩu từng vượt 20% vào năm 2011, trên 40% năm 2009 và gần 60% năm 2008. Điều này cho thấy quy mô thâm hụt hiện nay tuy lớn về giá trị tuyệt đối nhưng không phải mức chưa từng xuất hiện nếu đặt trong bối cảnh quá trình mở cửa và thu hút đầu tư của nền kinh tế.

Xuất khẩu đang mang hình chữ K

So với các chu kỳ trước, động lực hiện nay tập trung mạnh vào chuỗi cung ứng điện tử đang hưởng lợi từ nhu cầu AI. Điều đó cũng làm rõ hơn sự phân hóa trong xuất khẩu.

Theo ông Linh, tăng trưởng xuất khẩu hiện mang đặc điểm của đường chữ K, cả theo khu vực kinh tế lẫn nhóm hàng. Trong 5 tháng đầu năm, xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI tăng khoảng 25% so với cùng kỳ, trong khi khu vực kinh tế trong nước chỉ tăng khoảng 2,5%.

Xét theo ngành, nhóm điện tử – vốn do khu vực FDI chi phối – ghi nhận mức tăng trưởng xuất khẩu khoảng 35%. Ngược lại, hai nhóm trụ cột của khu vực trong nước là nông nghiệp và dệt may chỉ tăng khoảng 1%. Nói cách khác, chính các ngành đang kéo nhập khẩu tăng mạnh nhất cũng là những ngành tạo ra tăng trưởng xuất khẩu lớn nhất, nhưng phần lớn giá trị gia tăng tập trung ở khu vực FDI.

Ông Linh nhận định quy mô thâm hụt thương mại có thể bắt đầu thu hẹp từ tháng 6 nhờ yếu tố mùa vụ thuận lợi, khi xuất khẩu vào các thị trường lớn thường cải thiện trong nửa cuối năm. Trong kịch bản căng thẳng địa chính trị giảm bớt và giá dầu cùng chi phí đầu vào trở về mức hợp lý hơn, Việt Nam có thể quay lại trạng thái thặng dư thương mại vào cuối năm 2026 hoặc đầu năm 2027.

Thâm hụt lớn, cấu trúc khác

Xét theo số tuyệt đối, mức thâm hụt thương mại hiện nay là lớn nhất trong nhiều năm. Nhưng xét theo cấu trúc, đây không phải câu chuyện tiêu dùng bùng nổ hay xuất khẩu suy yếu. Dữ liệu cho thấy phần lớn chênh lệch đến từ nhập khẩu tư liệu sản xuất, linh kiện điện tử và chip nhớ trong bối cảnh chu kỳ đầu tư cho AI toàn cầu đang diễn ra.

Điều cần theo dõi là khả năng lượng chip nhớ, linh kiện điện tử và các tư liệu sản xuất đang đổ vào Việt Nam có được chuyển hóa thành một làn sóng xuất khẩu mới trong các quý tới hay không. Nếu điều này xảy ra, mức thâm hụt 13,8 tỉ USD hiện nay có thể được xem là chi phí ban đầu của một chu kỳ tăng trưởng mới.

Ngược lại, nếu năng lực sản xuất và lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước không cải thiện tương xứng, khoảng cách giữa khu vực FDI và phần còn lại của nền kinh tế có thể tiếp tục nới rộng, ngay cả trong trường hợp cán cân thương mại dần trở lại trạng thái thặng dư.

Trong bối cảnh đó, nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), với mục tiêu chuyển từ thu hút FDI “bằng mọi giá” sang lựa chọn dòng vốn tạo giá trị gia tăng cao và tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước trở thành biến số quan trọng. Thâm hụt thương mại hiện tại cho thấy chuỗi cung ứng điện tử và khu vực FDI đang đóng vai trò đầu tàu, nhưng hiệu quả dài hạn sẽ phụ thuộc vào việc các dự án mới có thực sự gắn với chuyển giao công nghệ, nâng cấp kỹ năng lao động và tạo không gian cho doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị hay không.

Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn

https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/dang-sau-con-so-tham-hut-thuong-mai-138-ti-usd-58629.html

#thâm hụt
#nhập khẩu
#điện tử
#AI
#xuất khẩu
#thâm hụt thương mại
#cán cân thương mại
#Nhập siêu Việt Nam
#Xuất khẩu Việt Nam
#kinh tế Việt Nam
#linh kiện điện tử
#Chuỗi cung ứng điện tử
#công nghệ cao
#thương mại Việt Nam