Việt Nam đứng 14/30 trong bảng xếp hạng thương mại bền vững 2026

BBWV - Kinh tế và xã hội cùng tụt hạng khiến Việt Nam đứng yên ở vị trí 14/30 trong bảng xếp hạng chỉ số Thương mại Bền vững 2026, dù trụ cột môi trường tăng 5 bậc.

Bên trong cảng Cái Mép. Hình ảnh: Khôi Đặng

Bên trong cảng Cái Mép. Hình ảnh: Khôi Đặng

Tác giả: Linh Chi

14 tháng 10, 2026 lúc 12:45 PM

Tóm tắt bài viết bởi

logo
  • Theo Hinrich Foundation và IMD, Việt Nam đạt 61,64 điểm, xếp vị trí 14/30 trong bảng xếp hạng Thương mại Bền vững 2026, nhờ trụ cột môi trường tăng 5 bậc lên hạng 8.
  • Trụ cột kinh tế tụt hạng dù GDP đầu người tăng 6,96%, do rào cản phi thuế quan gia tăng và độ tập trung xuất khẩu vào 5 thị trường lớn vọt lên 72,58%.
  • Ông Arturo Bris từ IMD khuyến cáo Việt Nam cần đa dạng hóa rủi ro thương mại, khi chi cho R&D giảm còn 0,41% GDP và chỉ số sẵn sàng số đứng hạng 24.
  • Việt Nam dẫn đầu về định giá carbon nhưng nằm nhóm cuối về bụi mịn, đồng thời giảm 2 bậc ở trụ cột xã hội do rủi ro lao động trẻ em xuất khẩu.
  • Dù tăng 20,9 điểm STI sau 5 năm (cao nhất APEC), Việt Nam giữ hạng 14 ba năm liên tiếp và xếp thứ tư Đông Nam Á, đứng sau Malaysia và Thái Lan.

Việt Nam xếp hạng 14/30 về Chỉ số Thương mại Bền vững (STI) 2026 với 61,64 điểm. Chỉ số thương mại bền vững là bảng xếp hạng được công bố hàng năm nhằm đánh giá 30 nền kinh tế, phần lớn ở châu Á - Thái Bình Dương, cùng các đối tác thương mại lớn như Vương quốc Anh, Mỹ, Canada theo ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường. Bảng xếp hạng do Hinrich Foundation phối hợp với trung tâm Năng lực cạnh tranh Thế giới thuộc IMD, học viện đào tạo quản lý tại Thụy Sĩ thực hiện. 

Kinh tế mất vai trò dẫn dắt

Thứ hạng của Việt Nam năm nay không thay đổi, nhưng các chỉ số chính đang diễn biến ngược chiều. Trụ cột kinh tế từng là động lực chính giúp Việt Nam giữ thứ hạng trong giai đoạn 2022-2025 giảm điểm trong năm 2026, tương tự là trụ cột xã hội. Việt Nam giữ được vị trí chủ yếu nhờ trụ cột môi trường tăng 5 bậc lên hạng 8.

Đà giảm ở trụ cột kinh tế không chỉ xảy ra với Việt Nam. Báo cáo theo dõi ba khuôn khổ thương mại lớn mà Việt Nam đều là thành viên, mỗi khuôn khổ có mức ràng buộc khác nhau. Ba hiệp định  bao gồm: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) với 12 thành viên, hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), gồm 15 thành viên ở châu Á - Thái Bình Dương và diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), với 21 thành viên. 

Dù khác nhau về mức độ ràng buộc, cả ba khối đều chứng kiến điểm kinh tế trung bình giảm trong năm 2026: 8,74 điểm ở RCEP, 6,58 điểm ở APEC và 5,63 điểm ở CPTPP. Theo nhóm nghiên cứu, mức giảm đồng loạt này khó giải thích bằng thiết kế của riêng hiệp định nào, mà phản ánh môi trường thương mại toàn cầu đang thay đổi: WTO không còn khả năng giải quyết tranh chấp, chính sách đơn phương lấn át đàm phán đa phương, và các nước chuyển sang ký những hiệp định nhỏ hơn. 

Chart1_thu_hang_4_khung

Trụ cột kinh tế gồm 17 nhóm chỉ số, từ tăng trưởng, đầu tư, rào cản thương mại đến đổi mới công nghệ. Năm 2026, Việt Nam tăng hạng ở 10 nhóm và chỉ giảm ở 5 nhóm. Dù vậy, trụ cột này vẫn tụt hạng vì hai nhóm chỉ số giảm sâu, cùng một chỉ số mới mà Việt Nam đứng ở nhóm cuối.

Tăng trưởng và đầu tư vẫn là thế mạnh của Việt Nam. Tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người năm 2025 đạt 6,96%, xếp hạng 2/30. Dòng vốn FDI ròng bằng 4,23% GDP, giữ hạng 5. Về thể chế, Việt Nam tiếp tục mở cửa khi số hiệp định thương mại khu vực có hiệu lực tăng từ 15 lên 17, chỉ số tự do đầu tư đưa Việt Nam từ hạng 22 năm 2022 lên hạng 10.

Hai điểm kéo tổng điểm của trụ cột kinh tế đi xuống nằm ở rào cản thương mại và chính sách tiền tệ. Nhóm rào cản thuế quan và phi thuế quan đo số biện pháp gây bất lợi cho thương mại đang có hiệu lực và tỉ trọng hàng nhập khẩu chịu tác động. Từng xếp hạng 2 năm 2025, nhóm này giảm 15 bậc xuống hạng 17, chủ yếu do số biện pháp phi thuế quan mới tăng gấp đôi. Nhóm can thiệp chính sách tiền tệ, đo dư địa tác động lên tỉ giá qua cán cân vãng lai và biến động dự trữ ngoại hối, giảm 14 bậc xuống hạng 21.

Xuất khẩu tăng quy mô nhưng phụ thuộc hơn vào ít thị trường. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 472,9 tỉ USD năm 2025, tăng từ 335,9 tỉ USD năm 2021. Cơ cấu mặt hàng đa dạng hơn, nhưng độ tập trung vào một số thị trường chính cũng tăng lên. Trong các kỳ báo cáo trước, 5 thị trường lớn nhất chiếm khoảng 61-63% kim ngạch xuất khẩu.

Năm 2025, tỉ trọng này tăng lên 72,58%, khiến Việt Nam rơi 8 bậc xuống hạng 24. Từ báo cáo năm 2024, ông Arturo Bris, giám đốc trung tâm Năng lực cạnh tranh Thế giới thuộc IMD, đã cho rằng thách thức lớn của Việt Nam là đa dạng hóa rủi ro của cơ cấu thương mại.

Trụ cột về năng lực đổi mới của nền kinh tế cũng không được đánh giá cao khi chi cho nghiên cứu và phát triển giảm từ 0,53% GDP trong báo cáo năm 2022 xuống 0,41% GDP năm nay. Báo cáo xếp Việt Nam cùng Mexico, Peru và Myanmar vào nhóm có mức chi dưới 0,5% GDP suốt giai đoạn khảo sát. Ở chỉ số mới về mức độ sẵn sàng số, đo qua hệ thống luật thương mại điện tử, Việt Nam xếp hạng 24.

Môi trường bứt phá, xã hội đi xuống 

Trụ cột môi trường kể một câu chuyện khác: Việt Nam tiến nhanh trên văn bản, nhưng chậm hơn ngoài thực tế. Mức tăng 5 bậc năm nay gần như hoàn toàn đến từ chính sách và cam kết. Lần đầu tiên, Việt Nam đứng đầu bảng về định giá carbon. Việt Nam cũng dẫn đầu về tiêu chuẩn môi trường trong thương mại khi đạt điểm tối đa ở cả 7 công ước quốc tế được khảo sát, sau khi chỉ đứng hạng 23 ở chỉ số này năm 2022.

Chất lượng môi trường thì chưa chuyển biến tương ứng. Ô nhiễm bụi mịn vẫn khiến Việt Nam nằm ở nhóm cuối bảng, còn lượng phát thải gắn với hàng xuất khẩu nhiều năm liền ở mức cao. Khoảng cách giữa cam kết và kết quả này sẽ càng đáng chú ý khi EU bắt đầu thu phí carbon biên giới (CBAM) từ năm 2027.

Ở trụ cột xã hội, nghịch lý nằm ngay trong con số: điểm của Việt Nam tăng khá mạnh, từ 38,5 lên 47,4, nhưng thứ hạng vẫn giảm 2 bậc vì các nền kinh tế khác cải thiện nhanh hơn. Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở chuỗi sản xuất cho xuất khẩu.

Số nhóm hàng có sử dụng lao động trẻ em không giảm suốt 5 năm, và cùng với rủi ro lao động cưỡng bức, tiếp tục kéo Việt Nam xuống nhóm cuối bảng. Theo báo cáo, đây là vấn đề chung của các nền kinh tế mới nổi: chính những ngành đang dẫn dắt tăng trưởng xuất khẩu cũng là nơi tập trung rủi ro về bảo vệ lao động.

Việt Nam trong khu vực: Khoảng cách thu hẹp dần 

Tính chung 5 năm, điểm STI của Việt Nam tăng 20,9 điểm, mức tăng nhiều nhất trong 21 nền kinh tế APEC. Cùng giai đoạn, điểm trung bình của cả khối APEC chỉ tăng 6,8 điểm.

Tuy nhiên, câu chuyện sẽ khác khi đặt Việt Nam cạnh các nước láng giềng trong khu vực ASEAN. Việt Nam đã giữ hạng thứ 14 trong 3 năm liên tiếp khi các nền kinh tế trong khu vực liên tục đổi chỗ. Malaysia đi lên đều đặn, từ hạng 15 lên hạng 11 chỉ trong hai năm. Thái Lan lên xuống thất thường, từ hạng 12 năm 2024 tụt xuống hạng 15 năm 2025, nhưng cú bật 2 bậc lên hạng 13 năm nay đủ để vượt Việt Nam, dù hai nước có cùng 61,64 điểm.

Chart_khu_vuc_slope

Ở chiều ngược lại, Philippines, nước đứng ngay trên Việt Nam suốt hai năm, năm nay tụt 3 bậc và rơi xuống phía sau. Trong khi đó, sức ép từ dưới lên ngày càng lớn: Campuchia tăng 4 bậc, ngang mức tăng mạnh nhất năm nay, và giờ chỉ còn cách Việt Nam 3,28 điểm.

Việt Nam vì vậy vẫn giữ vị trí thứ tư Đông Nam Á, nhưng vị trí đó không còn chắc chắn. Năm nền kinh tế từ hạng 13 đến 17 chỉ cách nhau 4 điểm. 

Báo cáo đặc biệt chú ý đến Việt Nam và Singapore, hai trong 7 nền kinh tế tham gia cùng lúc CPTPP, RCEP và APEC. Hai nước bước vào CPTPP, hiệp định có yêu cầu khắt khe nhất, từ hai điểm xuất phát trái ngược: Singapore đã đáp ứng gần hết các chuẩn mực trước khi tham gia, còn Việt Nam thì chưa, nhưng vẫn ký. Theo nhóm nghiên cứu, nếu các cam kết sâu thực sự làm thay đổi chính sách trong nước, những nước như Việt Nam sẽ là nơi thể hiện rõ điều đó trước tiên.

Đến nay, câu trả lời vẫn chưa rõ ràng. Theo báo cáo, việc Việt Nam đứng yên ở hạng 14 suốt ba năm, trong khi thứ hạng xã hội đi xuống, cho thấy việc tham gia vào một hiệp định không đủ để kéo chỉ số thương mại bền vững đi lên. Hiệp định chỉ tạo ra cơ hội, còn tận dụng được hay không phụ thuộc vào cải cách trong nước.

Với Việt Nam, các chỉ số năm nay đã chỉ ra những điểm cần cải cách: mức độ phụ thuộc vào ít thị trường xuất khẩu, khoảng cách giữa cam kết môi trường và chất lượng môi trường thực tế, cùng rủi ro lao động trong chuỗi xuất khẩu. Báo cáo cho rằng trong giai đoạn tới, lợi thế sẽ thuộc về những nền kinh tế biến được yêu cầu bền vững thành thứ có thể bán, thay vì chỉ là điều kiện phải tuân thủ.

Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn

https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/viet-nam-giu-hang-nhung-mat-da-trong-bang-xep-hang-thuong-mai-ben-vung-2026-60941.html

#Việt Nam
#thương mại
#kinh tế
#STI 2026

Mới nhất

Videos mới nhất