Thị trường dầu mỏ bước vào giai đoạn phá hủy nhu cầu

BBWV - Khi nguồn cung dầu sụt giảm nghiêm trọng vì xung đột Iran, thị trường toàn cầu có thể buộc phải cắt giảm tiêu thụ ở quy mô lớn, kéo theo rủi ro kinh tế.

Kho chứa dầu tại một nhà máy lọc dầu ở Yokohama, Nhật Bản, vào ngày 24 tháng 3. Hình ảnh: Soichiro Koriyama/Bloomberg

Kho chứa dầu tại một nhà máy lọc dầu ở Yokohama, Nhật Bản, vào ngày 24 tháng 3. Hình ảnh: Soichiro Koriyama/Bloomberg

Tác giả: Javier Blas

30 tháng 03, 2026 lúc 3:00 PM

Tóm tắt bài viết

logo
  • Xung đột leo thang làm trầm trọng thêm bài toán cung cầu dầu mỏ, đặc biệt nếu eo biển Hormuz đóng cửa sẽ gây ảnh hưởng đến 1/5 nguồn cung toàn cầu.
  • Các biện pháp ứng phó ban đầu như sử dụng dầu tồn kho, chuyển hướng xuất khẩu và xả kho dự trữ chiến lược đã bù đắp 60% thiếu hụt, tương đương 12 triệu thùng/ngày.
  • Theo bà Paola Rodriguez-Masiu, trưởng bộ phận phân tích dầu tại Rystad Energy, thị trường cần cắt giảm 8 triệu thùng/ngày, tương đương tổng mức tiêu thụ của nhiều nước châu Âu.
  • Cơ quan Năng lượng Quốc tế khuyến nghị các biện pháp giảm tiêu thụ năng lượng, nhưng chưa được các nền kinh tế lớn triển khai rộng rãi do lo ngại phản ứng từ người dân.
  • Các quốc gia nghèo hơn tại châu Phi, Mỹ Latinh và châu Á sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do giá dầu tăng cao, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nguồn cung và ngừng hoạt động.

Chỉ sau năm tuần kể từ khi cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ ba bùng nổ, bài toán cung – cầu dầu mỏ đã trở nên nan giải: Thế giới đang thiếu hụt “vàng đen” một cách nghiêm trọng.

Những biện pháp như xây dựng đường ống tránh eo biển Hormuz hay khai thác kho dự trữ chiến lược chỉ giúp giảm bớt áp lực phần nào. Nhưng nếu xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran không sớm kết thúc, nhu cầu tiêu thụ dầu buộc phải điều chỉnh theo nguồn cung thấp hơn, thậm chí thấp hơn nhiều. Và thế là khái niệm “phá hủy nhu cầu” bắt đầu xuất hiện.

Cho đến nay, thị trường vẫn hấp thụ cú sốc thiếu hụt khá tốt. Bất chấp các bài viết với nội dung đáng báo động, giá dầu chuẩn vẫn nằm quanh mức 100 USD một thùng, thấp hơn nhiều so với các cuộc khủng hoảng trước đây khi giá vọt lên 130–150 USD.

Phản ứng tương đối “điềm tĩnh” này không có nghĩa thị trường đánh giá thấp việc eo biển Hormuz đóng cửa, tuyến vận chuyển chiếm khoảng 1/5 nguồn cung dầu toàn cầu. Ngược lại, điều đó cho thấy các lớp “phòng thủ nguồn cung” đã phát huy tác dụng như giải pháp tạm thời trong một gián đoạn mới kéo dài khoảng một tháng. Các cuộc khủng hoảng trước thường kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm.

Khoảng cách giữa cung và cầu lớn đến mức sớm muộn các biện pháp này cũng cạn kiệt. Lần gần nhất thị trường mất cân đối nghiêm trọng là năm 2020, khi đại dịch buộc hàng tỉ người phải phong tỏa. Khi đó là thừa cung, còn lần này thì ngược lại.

dothi1
Trong những ngày đầu của cuộc chiến, việc đóng cửa eo biển khiến thị trường mất ngay khoảng 20 triệu thùng dầu thô và sản phẩm tinh chế mỗi ngày. Ngành năng lượng lập tức kích hoạt lớp phòng thủ đầu tiên: Sử dụng lượng dầu tồn kho. Lớp phòng thủ thứ hai đến nhanh sau đó khi Ả Rập Xê Út và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) chuyển hướng một phần xuất khẩu qua các đường ống tránh Hormuz, đưa dầu ra Biển Đỏ và vịnh Oman.

Lớp phòng thủ thứ ba đến từ giới chính trị. Các nền kinh tế giàu nhất đã xả kho dự trữ chiến lược, bơm hàng triệu thùng ra thị trường. Tổng thống Mỹ Donald Trump cũng liên tục phát tín hiệu trấn an. Những phát biểu về khả năng sớm chấm dứt giao tranh đã giúp hạ nhiệt tâm lý mua tích trữ hoảng loạn.

Thật sự rất khó có thể đo lường chính xác độ hiệu quả của từng biện pháp. Một số, như đường ống, mang tính lâu dài. Số khác, như xả kho dự trữ, chỉ mang tính tạm thời. Các ước tính sơ bộ với giả định thuận lợi cho thấy các biện pháp này có thể đã bù đắp khoảng 60% mức thiếu hụt, tương đương 12 triệu thùng mỗi ngày.

Tuy nhiên, phần thiếu hụt còn lại vẫn rất lớn và sẽ tiếp tục nới rộng ra nếu chiến sự kéo dài và nguồn dự trữ cạn dần. Khi không có nguồn cung mới, thị trường chỉ còn một cách để cân bằng, cũng là “tuyến phòng thủ” thứ tư và khắc nghiệt nhất: Phá hủy nhu cầu. Điều này xảy ra khi các nhà hoạch định chính sách áp dụng biện pháp khẩn cấp để giảm tiêu thụ năng lượng, hoặc khi giá tăng quá cao buộc người tiêu dùng phải ngừng mua, kịch bản gây tổn hại lớn hơn cho kinh tế.

Lý do khiến kịch bản này gần như không thể tránh khỏi ngày càng rõ ràng. Theo Paola Rodriguez-Masiu, trưởng bộ phận phân tích dầu tại Rystad Energy: “Hệ thống đã chuyển từ trạng thái có đệm sang mong manh.”

Mong manh đến mức nào? Câu trả lời vỏn vẹn từ “rất”. Nếu các phép tính là chính xác, thị trường cần cắt giảm ít nhất khoảng 8 triệu thùng mỗi ngày, tương đương tổng mức tiêu thụ của Đức, Pháp, Anh, Ý và Tây Ban Nha cộng lại.

Cách ít gây tổn hại hơn là để chính phủ chủ động ép giảm tiêu thụ ở mức nhất định. Ví dụ như hạ giới hạn tốc độ trên cao tốc hoặc hạn chế sử dụng điều hòa và sưởi ấm. Cho phép làm việc tại nhà nhằm giảm nhu cầu đi lại cũng là một lựa chọn, dù vẫn nhạy cảm về chính trị và kinh tế.

Cơ quan Năng lượng Quốc tế đã khuyến nghị các biện pháp như vậy, nhưng chưa có nền kinh tế lớn nào triển khai do lo ngại phản ứng của người dân. Ngược lại, tại các nước đang phát triển, Pakistan, Philippines, Việt Nam và Thái Lan đã bắt đầu đi theo hướng này. Nếu chiến sự không sớm kết thúc, nhiều quốc gia khác có thể sẽ làm theo.

dothi2
Tuy nhiên, khả năng điều tiết nhu cầu bằng chính sách cũng có giới hạn, đặc biệt trong một cuộc khủng hoảng năng lượng chưa thấy điểm dừng. Cuối cùng, giá cả tăng vọt sẽ đóng vai trò quyết định, và tác động sẽ không phân bổ đồng đều. Tại châu Phi và một số khu vực Tây Nam Á và Đông Nam Á, giá sản phẩm dầu tinh chế đã đủ cao để kìm hãm tiêu dùng và kéo giảm hoạt động kinh tế. Nhiều nhà máy hóa chất và phân bón đã phải đóng cửa.

Các quốc gia nghèo hơn sẽ bị đẩy ra khỏi thị trường khi phải cạnh tranh với các nền kinh tế giàu hoặc những nước có khả năng trợ giá nhiên liệu và áp đặt hạn chế xuất khẩu.

Cấu trúc tiêu thụ dầu toàn cầu cho thấy Mỹ, Canada, châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc chiếm gần 55% nhu cầu. Điều đó đồng nghĩa 6 trong 10 thùng dầu được tiêu thụ tại những nơi có khả năng chi trả cao. Phần lớn “phá hủy nhu cầu” ban đầu sẽ diễn ra ở những khu vực không đủ sức chịu giá cao, tập trung tại châu Phi, Mỹ Latin và phần lớn châu Á. Trong vài tuần tới, nếu chiến sự tiếp diễn, nhiều trạm xăng sẽ cạn nguồn cung và các nhà máy sẽ buộc phải dừng hoạt động.

Nếu cuộc chiến kéo dài hàng tháng thay vì vài tuần, chừng đó vẫn chưa đủ. Cú sốc sẽ lan tới chính các nền kinh tế công nghiệp, nơi tiêu thụ dầu lớn nhất. Một cuộc khủng hoảng năng lượng luôn được quyết định bởi hai yếu tố: Quy mô gián đoạn nguồn cung và thời gian kéo dài. Hiện tại, cú sốc có quy mô rất lớn nhưng thời gian còn ngắn. Vì sinh mạng người dân tại các vùng chiến sự, và vì cả các nền kinh tế đang phát triển lẫn phát triển, điều cần nhất lúc này là xung đột sớm khép lại.

Theo Bloomberg

Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn

https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/thi-truong-dau-mo-buoc-vao-giai-doan-pha-huy-nhu-cau-56952.html

#dầu
#Xung đột Trung Đông
#khủng hoảng năng lượng
#giá dầu
#Eo biển Hormuz
#cung cầu
#dầu thô
#phá hủy nhu cầu

Gói đăng ký