Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Chuyên mục
Media
Báo cáo đặc biệt
Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Khám phá nhiều hơn với tài khoản
Đăng nhập để lưu trữ và dễ dàng truy cập những bài viết bạn yêu thích trên Bloomberg Businessweek Việt Nam.
BBWV - Alan Greenspan, cựu chủ tịch Fed từng được xem là "nhạc trưởng" của nền kinh tế Mỹ, qua đời ở tuổi 100, để lại một di sản đan xen giữa thành công và tranh cãi.
Hình ảnh: Andrew Harrer/Bloomberg
Tác giả: Steve Matthews và Scott Lanman
22 tháng 06, 2026 lúc 7:57 PM
Ông Alan Greenspan, cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã qua đời ở tuổi 100. Ông là người từng được ca ngợi như một "phù thủy" vì dẫn dắt nền kinh tế Mỹ trong giai đoạn tăng trưởng dài kỷ lục, nhưng sau đó danh tiếng bị lu mờ bởi cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ chưa đầy hai năm sau khi ông rời nhiệm sở.
Ông qua đời hôm thứ Hai tại nhà riêng, theo tin từ NBC News, dẫn lời vợ ông là Andrea Mitchell, trưởng phóng viên thường trú tại Washington và trưởng phóng viên đối ngoại của hãng. Nguyên nhân được cho là các biến chứng liên quan đến bệnh Parkinson's.
Trong 18 năm giữ cương vị Chủ tịch Fed, từ năm 1987 đến khi nghỉ hưu đầu năm 2006, Greenspan chứng kiến thị trường chứng khoán Mỹ bùng nổ và tỉ lệ thất nghiệp duy trì ở mức thấp. Thậm chí, hơn cả bốn đời tổng thống mà ông phục vụ hay bảy bộ trưởng Tài chính từng làm việc cùng, Greenspan được xem là "nhạc trưởng" đứng sau cỗ máy kinh tế Mỹ vận hành trơn tru.
“Alan Greenspan xứng đáng được ghi nhớ là một trong những thống đốc ngân hàng trung ương vĩ đại nhất của nửa sau thế kỷ 20, xét trên phạm vi toàn cầu chứ không chỉ riêng tại Fed,” ông Roger Ferguson, người giữ chức Phó Chủ tịch Fed giai đoạn 1999-2006, nhận định. Theo ông Ferguson, Greenspan “là một trong những người đầu tiên nhận ra tác động của công nghệ đối với việc nâng cao năng suất tại Mỹ, qua đó cho phép nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn mức chúng ta từng nghĩ mà không gây ra lạm phát”.
Vị chủ tịch Fed với cặp kính đặc trưng trở thành biểu tượng của giới tài chính toàn cầu nhờ các bài phát biểu được truyền hình trực tiếp và những lần điều trần trước Quốc hội, vốn thường đủ sức làm rung chuyển thị trường. Tuy nhiên, để hiểu được thông điệp của ông, giới giao dịch và phóng viên thường phải phân tích kỹ lưỡng những phát biểu nổi tiếng là khó đoán và nhiều ẩn ý của Greenspan nhằm tìm ra vài từ khóa quan trọng.
Trong một bài phát biểu năm 1996, Greenspan từng đặt câu hỏi mang tính tu từ: “Làm thế nào để chúng ta biết khi nào sự hưng phấn phi lý đã đẩy giá trị tài sản lên quá mức, để rồi sau đó phải đối mặt với những đợt điều chỉnh bất ngờ và kéo dài như Nhật Bản đã trải qua trong thập niên trước?”.
Các nhà đầu tư lập tức chú ý đến cụm từ “sự hưng phấn phi lý” (irrational exuberance), khiến thị trường chứng khoán giảm điểm trong thời gian ngắn trước khi tiếp tục tăng mạnh. Vài năm sau, cụm từ này trở thành một phần của ngôn ngữ kinh tế phổ biến khi bong bóng cổ phiếu internet vỡ tung.
Giới đầu tư ngày càng tin tưởng rằng Greenspan sẽ sử dụng các công cụ chính sách trong tay, đặc biệt là lãi suất, để hỗ trợ thị trường chứng khoán mỗi khi xảy ra các đợt lao dốc lớn. Quan niệm này được gọi tắt là “Greenspan put”, lấy cảm hứng từ chiến lược quyền chọn nhằm hạn chế thua lỗ trong đầu tư. Tuy nhiên, nhiều nhà phê bình cho rằng niềm tin đó đã tạo ra rủi ro đạo đức khi khiến các hành vi đầu cơ trở nên có vẻ an toàn hơn thực tế.
Nhiệm kỳ của Greenspan là nhiệm kỳ dài thứ hai trong lịch sử các chủ tịch Fed, chỉ sau William McChesney Martin Jr.. Thời gian ông lãnh đạo ngân hàng trung ương Mỹ cũng trùng với một trong những giai đoạn tăng trưởng kinh tế ổn định nhất kể từ khi Fed được thành lập năm 1913.
Từ sau khi cuộc suy thoái kết thúc vào tháng 3.1991 đến khi một cuộc suy thoái mới bắt đầu vào tháng 3.2001, nền kinh tế Mỹ trải qua chuỗi tăng trưởng liên tục kéo dài 10 năm. Kỷ lục này sau đó bị vượt qua bởi giai đoạn mở rộng kinh tế từ năm 2009 đến 2020.
Trong khoảng thời gian đó, chỉ số S&P 500 tăng gần gấp bốn lần, trong khi kinh tế Mỹ tăng trưởng trung bình 3,5% mỗi năm. Tỉ lệ thất nghiệp duy trì ở mức bình quân 5,5% và giảm xuống còn 3,8% vào tháng 4.2000, mức thấp nhất kể từ năm 1969 vào thời điểm đó.
Tuy nhiên, những áp lực tài chính đã bắt đầu tích tụ trong những năm cuối nhiệm kỳ của Greenspan.
Nhiều người mua nhà được phê duyệt các khoản vay thế chấp dưới chuẩn (subprime mortgage) vượt quá khả năng chi trả của họ. Một số khác vay mượn nhiều dựa trên giá trị căn nhà đang sở hữu. Trong khi đó, các ngân hàng đầu tư đóng gói các khoản vay thế chấp thành chứng khoán để bán ra thị trường, còn các công ty tài chính cung cấp các sản phẩm bảo hiểm rủi ro vỡ nợ đối với những khoản nợ này. Cỗ máy tài chính tiếp tục vận hành cho đến khi nhiên liệu của nó, tức giá nhà liên tục tăng, cạn kiệt.
Biên bản các cuộc họp chính sách của Fed năm 2005 cho thấy các chuyên gia và quan chức ngân hàng trung ương khi đó đã nhận diện được bong bóng trên thị trường nhà ở. Tuy nhiên, Greenspan đánh giá rằng “bất kỳ dấu hiệu đầu cơ quá mức nào trên thị trường nhà ở vào thời điểm đó cũng đang dần được kiểm soát, chủ yếu nhờ lãi suất thế chấp tăng lên và bắt đầu phát huy tác động”.
Đến giữa năm 2007, hoạt động cho vay giữa các ngân hàng gần như đóng băng, châm ngòi cho chuỗi sự kiện dẫn tới vụ phá sản của Lehman Brothers vào tháng 9.2008. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu sau đó đẩy Fed cùng người kế nhiệm Greenspan là Ben Bernanke vào một giai đoạn chưa từng có tiền lệ.

Từng được ca ngợi rộng rãi nhờ vai trò điều hành nền kinh tế Mỹ, Greenspan sau đó phải đối mặt với làn sóng chỉ trích khi nhiều người cho rằng cách tiếp cận ít can thiệp của ông đối với thị trường tài chính và các bong bóng tài sản, đặc biệt là bong bóng nhà ở hình thành trong giai đoạn cuối nhiệm kỳ, đã đặt nền móng cho cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất kể từ thời kỳ Đại khủng hoảng.
Các nhà phê bình cho rằng việc Greenspan liên tục nhấn mạnh sự bùng nổ của năng suất lao động như bằng chứng cho sự xuất hiện của một "nền kinh tế mới" đã góp phần thổi phồng đà tăng của thị trường chứng khoán. Năm 2010, ông Paul Kasriel, khi đó làm việc tại quỹ Northern Trust ở Chicago, nhận định rằng Greenspan đã "tiếp tay cho bong bóng chứng khoán lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ".
Trong thời gian lãnh đạo Fed, Greenspan phản đối việc tăng cường giám sát và quản lý đối với ngành tài chính. Tuy nhiên, sau khi hệ thống tài chính Mỹ đứng bên bờ vực sụp đổ, ông thừa nhận trong các phiên điều trần trước Quốc hội và các bài phát biểu công khai rằng các cơ quan quản lý đã “thất bại”, đồng thời cho rằng “cơn sóng thần tín dụng chỉ xuất hiện một lần trong thế kỷ” cho thấy niềm tin của ông vào thị trường tự do có thể đã tồn tại những khiếm khuyết.
“Tôi, cũng như những người từng tin rằng lợi ích tự thân của các tổ chức cho vay sẽ đủ để bảo vệ vốn cổ đông, đã thực sự sửng sốt và khó tin trước những gì xảy ra,” Greenspan phát biểu trước các nghị sĩ Mỹ năm 2008.
Trong phiên điều trần trước Ủy ban Điều tra Khủng hoảng Tài chính Mỹ, cơ quan được Quốc hội Mỹ thành lập để điều tra nguyên nhân cuộc khủng hoảng tài chính, Greenspan thừa nhận: “Khoảng 70% thời gian tôi đúng, nhưng 30% thời gian tôi cũng sai.”
Trong báo cáo cuối cùng, ủy ban kết luận rằng: “Hơn 30 năm nới lỏng các quy định và đặt niềm tin vào cơ chế tự giám sát của các tổ chức tài chính, được thúc đẩy bởi cựu chủ tịch Fed Alan Greenspan và nhiều người khác, dưới sự hậu thuẫn của các chính quyền và Quốc hội Mỹ qua nhiều nhiệm kỳ, đồng thời được ngành tài chính vận động mạnh mẽ ở mọi cấp độ, đã làm suy yếu những hàng rào bảo vệ quan trọng vốn có thể giúp tránh được thảm họa.”
Trong bộ phim tài liệu đoạt giải Oscar năm 2010 Inside Job của đạo diễn Charles Ferguson, Greenspan được khắc họa là một trong những nhân vật góp phần dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Bộ phim cho rằng sự phản đối của ông đối với việc tăng cường quản lý liên bang đối với thị trường cho vay thế chấp và các công cụ phái sinh trong thập niên 1990 đã tạo điều kiện cho những rủi ro tài chính tích tụ.
Greenspan đã từ chối tham gia phỏng vấn cho bộ phim này.
Các nhà báo sau đó đã tìm lại được luận án tiến sĩ năm 1977 của Greenspan, tài liệu từng biến mất khỏi hồ sơ công khai trong nhiều thập niên. Theo nhà viết tiểu sử Sebastian Mallaby, luận án này cho thấy Greenspan khi đó theo đuổi quan điểm tự do kinh tế mạnh mẽ, cho rằng “nghĩa vụ rõ ràng và bất khả xâm phạm” của Fed là “tránh in thêm tiền để nuôi dưỡng các bong bóng tài chính”.
Những phát hiện này càng làm nổi bật sự đối lập giữa quan điểm học thuật ban đầu của Greenspan với những chỉ trích mà ông phải đối mặt sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008.
Ông Alan Blinder, người giữ chức phó chủ tịch Fed dưới thời Greenspan giai đoạn 1994-1996, nhận xét trong một cuộc phỏng vấn năm 2011 rằng: “Greenspan đã quá lỏng lẻo trong chính sách giám sát tài chính suốt phần lớn nhiệm kỳ của mình, nhưng điều đó chưa từng dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nào. Cho đến khi cuộc khủng hoảng xảy ra thì nó đã xảy ra thật.”

Năm 2010, Greenspan đưa ra lời biện hộ của mình trong một báo cáo dài 63 trang mang tên The Crisis (Khủng hoảng). Nhìn lại cuộc khủng hoảng, ông cho rằng các ngân hàng đã chấp nhận quá nhiều rủi ro nhưng lại nắm giữ quá ít vốn để chống đỡ khi tình hình xấu đi. Ông cũng bác bỏ quan điểm cho rằng Fed lẽ ra nên ngăn chặn bong bóng nhà ở bằng cách nâng lãi suất mạnh hơn.
“Ở một mức lãi suất nào đó, chính sách tiền tệ có thể bóp vỡ bất kỳ bong bóng nào,” Greenspan viết. “Nếu mức 6,5% là chưa đủ thì hãy thử 20%, hoặc thậm chí 50%. Bất kỳ bong bóng nào cũng có thể bị dập tắt, nhưng sự thịnh vượng của nền kinh tế sẽ là nạn nhân tất yếu.”
Alan Greenspan sinh ngày 6.3.1926 tại khu vực Washington Heights thuộc New York City. Cha ông, Herbert Greenspan, là một nhà môi giới chứng khoán, còn mẹ ông, Rose Greenspan, là nội trợ. Hai người ly hôn khi Greenspan còn học trung học.
Theo Greenspan, niềm đam mê với bóng chày và kho dữ liệu thống kê đồ sộ của môn thể thao này đã khơi dậy sự quan tâm của ông đối với toán học. Khi nhận ra bản thân không thể "đánh bóng cong đủ tốt", ông chuyển hướng sang âm nhạc và theo học tại Juilliard ở New York.
Sau hai năm, Greenspan rời trường để chơi kèn clarinet và saxophone tenor trong ban nhạc swing của Henry Jerome. Ông từng biểu diễn cùng nghệ sĩ saxophone Stan Getz và kiếm được khoảng 6 USD mỗi tuần.
Trong thời gian lưu diễn, Greenspan bắt đầu đọc các cuốn sách về tài chính và kinh tế. Sau một năm, ông rời ban nhạc để theo học ngành kinh doanh và kinh tế tại Đại học New York, tốt nghiệp cử nhân kinh tế năm 1948. Sau đó, ông tiếp tục học các lớp buổi tối thêm hai năm để lấy bằng thạc sĩ, đồng thời làm việc ban ngày tại Hội đồng Nghiên cứu Công nghiệp Quốc gia Mỹ, một tổ chức nghiên cứu được tài trợ bởi khu vực tư nhân.
Năm 1950, Greenspan theo học chương trình tiến sĩ tại Đại học Columbia. Người hướng dẫn học thuật của ông là Arthur F. Burns, người sau này trở thành cố vấn kinh tế trưởng của tổng thống Richard Nixon và cũng từng giữ chức chủ tịch Fed. Tuy nhiên, Greenspan phải mất hơn hai thập niên mới hoàn thành chương trình tiến sĩ, với tấm bằng được cấp bởi Đại học New York.

Năm 1952, Greenspan kết hôn với Joan Mitchell, một nhà sử học nghệ thuật người Canada đang theo học tại Viện Mỹ thuật thuộc Đại học New York. Cuộc hôn nhân này chỉ kéo dài một năm. Đến năm 1997, ông tái hôn với Andrea Mitchell, phóng viên của NBC News. Hai người gắn bó với nhau cho đến khi Greenspan qua đời.
Thông qua người vợ đầu tiên, Greenspan quen biết Ayn Rand, người nổi tiếng với các quan điểm đề cao chủ nghĩa tư bản tự do và hạn chế sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế.
Không lâu sau, ông trở thành thành viên trong nhóm thân cận của Rand, những người thường xuyên tụ họp tại căn hộ của bà ở Manhattan. Greenspan sau này cho biết ảnh hưởng của Rand đã giúp ông quan tâm nhiều hơn đến việc “nỗi sợ hãi, sự hưng phấn và tâm lý bầy đàn tác động đáng kể như thế nào đến các nền kinh tế hiện đại”.
Năm 1953, cùng với cố vấn đầu tư William Townsend, Greenspan thành lập công ty tư vấn kinh tế Townsend-Greenspan. Sau khi Townsend qua đời năm 1958, Greenspan trở thành chủ sở hữu chính của doanh nghiệp này.
Công ty nhanh chóng xây dựng được uy tín nhờ các dự báo chính xác về kinh tế Mỹ. Thay vì chỉ dựa vào các chỉ số vĩ mô phổ biến, Greenspan khai thác những dữ liệu vi mô ít được chú ý như số liệu hàng tuần về lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường sắt hay sản lượng thùng chứa và hộp đóng gói theo quý. Ông cho biết dự báo kinh tế lớn đầu tiên của mình đã dự đoán chính xác đợt suy giảm dẫn đến cuộc suy thoái năm 1958.
Bước vào chính trường năm 1968, Greenspan trở thành giám đốc nghiên cứu chính sách đối nội cho chiến dịch tranh cử tổng thống của Richard Nixon khi đó là ứng viên của Đảng Cộng hòa. Sau chiến thắng của Nixon, Greenspan tham gia nhóm chuyển giao quyền lực, tập trung vào các vấn đề ngân sách và thương mại. Dù được mời nhận một vị trí chính thức tại Washington, ông từ chối và tiếp tục đóng vai trò cố vấn không chính thức.
Năm 1974, Greenspan được bổ nhiệm làm Chủ tịch Council of Economic Advisers, phục vụ dưới thời Nixon và sau đó là Tổng thống Gerald R. Ford.
Việc thích nghi với môi trường chính trị không phải lúc nào cũng dễ dàng. Trong một lần phản hồi ý kiến cho rằng các bà mẹ sống nhờ trợ cấp xã hội là nhóm chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong cuộc suy thoái giữa thập niên 1970, Greenspan nhận xét rằng các nhà môi giới chứng khoán mới là nhóm bị sụt giảm thu nhập mạnh nhất xét theo tỉ lệ phần trăm. Dù nhận định này dựa trên số liệu chính xác, ông vẫn hứng chịu nhiều chỉ trích, kéo theo cả chính quyền Ford bị liên đới.
Greenspan dần trở nên thành thạo trong việc điều hướng các mối quan hệ chính trị tại Washington. Tháng 12.1981, tổng thống Ronald Reagan bổ nhiệm ông làm chủ tịch một ủy ban lưỡng đảng được giao nhiệm vụ nghiên cứu cải cách hệ thống an sinh xã hội Mỹ.
Chỉ hơn một năm sau, với vai trò trung gian giữa Nhà Trắng và Quốc hội, Greenspan đã góp phần giúp ủy ban đạt được đồng thuận về một loạt điều chỉnh nhằm kéo dài khả năng thanh toán của hệ thống An sinh Xã hội sang thập niên 1990.
Năm 1984, Greenspan sử dụng tên tuổi của mình và dành một phần thời gian tham gia công ty đầu tư khởi nghiệp Greenspan-O'Neil Associates tại New York. Tuy nhiên, doanh nghiệp này chỉ tồn tại khoảng hai năm.
Cũng trong năm đó, ông Charles Keating, một chủ ngân hàng tại California, thuê Greenspan viết các bản kiến nghị và thư gửi Quốc hội nhằm bảo vệ kế hoạch mở rộng hoạt động của tổ chức tài chính Lincoln Savings & Loan. Trong một bức thư, Greenspan khẳng định Lincoln là “một tổ chức tài chính vững mạnh” với “thành tích lâu dài và liên tục về các khoản đầu tư trực tiếp an toàn và sinh lời”.
Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, Lincoln sụp đổ do các khoản cho vay bất động sản kém chất lượng, gây thiệt hại khoảng 3,4 tỉ USD cho người nộp thuế Mỹ. Keating bị kết án 17 tội danh gian lận chứng khoán tại bang California năm 1991, và hai năm sau tiếp tục bị kết án 73 tội danh liên bang liên quan đến gian lận, hoạt động tội phạm có tổ chức và âm mưu phạm tội, trước khi phải ngồi tù.
“Tất nhiên tôi cảm thấy xấu hổ vì đã không thể dự đoán những gì cuối cùng xảy ra với Lincoln,” Greenspan nói với tờ The New York Times năm 1989.

Khi Greenspan trở thành chủ tịch Fed năm 1987 theo đề cử của tổng thống Ronald Reagan, nhiều người vẫn hoài nghi liệu ông có thể đạt được thành công tương tự người tiền nhiệm hay không. Khi công bố quyết định bổ nhiệm, Reagan gọi Greenspan là “một nhà kinh tế của giới kinh tế học, một trong những người được kính trọng nhất trong lĩnh vực của ông”.
Thách thức đặt ra không hề nhỏ. Người tiền nhiệm của Greenspan là Paul Volcker, nhân vật được ghi nhận đã kiểm soát thành công tình trạng lạm phát cao kéo dài tại Mỹ trong suốt thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, qua đó đặt nền móng cho giai đoạn tăng trưởng kinh tế tiếp theo.
Khi tiếp quản Fed năm 1987, Greenspan thừa hưởng mức lạm phát 4,4%. Trong suốt nhiệm kỳ của mình, chỉ số giá tiêu dùng của Mỹ tăng trung bình khoảng 3% mỗi năm, phản ánh giai đoạn lạm phát tương đối ổn định.
Ông cũng dẫn dắt nền kinh tế Mỹ vượt qua hàng loạt cú sốc tài chính lớn. Sau vụ sụp đổ thị trường chứng khoán tháng 10.1987, Greenspan bơm thanh khoản để hỗ trợ nền kinh tế phục hồi. Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, ông trì hoãn kế hoạch nâng lãi suất. Năm 1998, Fed tiếp tục cắt giảm lãi suất sau khi Nga vỡ nợ. Cùng năm đó, Greenspan tham gia xây dựng gói giải cứu trị giá 3,5 tỉ USD cho quỹ đầu cơ đã thất bại Long-Term Capital Management.
Tổng thống George H. W. Bush, người kế nhiệm Ronald Reagan, từng quy trách nhiệm cho Greenspan về thất bại tái tranh cử năm 1992. Bush cho rằng Fed đã phản ứng quá chậm trong việc cắt giảm lãi suất khi nền kinh tế rơi vào suy thoái năm 1991.
Dù vậy, Bush vẫn tái bổ nhiệm Greenspan vào giữa năm 1991, dù quyết định này bị trì hoãn một thời gian. Theo một số quan chức Đảng Cộng hòa thời đó, sự chậm trễ này nhằm gửi thông điệp nhắc nhở tới Greenspan. Mối quan hệ giữa hai người sau đó vẫn lạnh nhạt trong nhiều năm.
Tổng thống Bill Clinton tiếp tục đề cử Greenspan cho nhiệm kỳ thứ ba và thứ tư. Đến năm 2004, Tổng thống George W. Bush, bất chấp những bất đồng trước đây giữa Greenspan và cha mình, vẫn đề cử ông cho nhiệm kỳ thứ năm và cũng là nhiệm kỳ cuối cùng.
Một trong những dấu ấn lâu dài của Greenspan tại Fed là thúc đẩy tính minh bạch trong hoạt động của ngân hàng trung ương. Từ đầu năm 1994, Federal Open Market Committee (FOMC) bắt đầu công bố các quyết định chính sách ngay trong ngày diễn ra cuộc họp, đồng thời giải thích lý do đằng sau các quyết định đó.
Các thông báo này thường chứa những tín hiệu quan trọng về định hướng chính sách trong tương lai, giúp thị trường có thêm cơ sở để dự đoán các bước đi tiếp theo của Fed. Đây được xem là một thay đổi mang tính bước ngoặt so với giai đoạn trước, khi ngân hàng trung ương Mỹ vận hành kín tiếng hơn nhiều.
Một phần quan trọng khác trong di sản của Greenspan là việc ông sớm nhận ra sự thay đổi mang tính cấu trúc của nền kinh tế Mỹ, trước cả phần lớn các nhà phân tích cùng thời.
Khi tăng trưởng kinh tế tăng tốc vào giữa thập niên 1990, nhiều nhà kinh tế cho rằng Fed cần nâng lãi suất để ngăn lạm phát bùng phát. Tuy nhiên, Greenspan quyết định để đà tăng trưởng tiếp tục diễn ra. Ông lập luận rằng những tiến bộ công nghệ đã đưa nước Mỹ bước vào một giai đoạn tăng năng suất mới, giúp hấp thụ chi phí lao động cao hơn và cho phép nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn đáng kể mà không làm lạm phát quay trở lại.
Greenspan bắt đầu nhận thấy sự cải thiện về năng suất của nền kinh tế Mỹ từ rất sớm, ngay từ tháng 3.1994. Theo phong cách quen thuộc, ông không chỉ nhìn vào các chỉ số kinh tế tổng hợp mà còn phân tích những tập dữ liệu rất cụ thể như giá hàng hóa cơ bản, tiền lương và nhu cầu tín dụng để tìm kiếm các dấu hiệu bất thường.
Ông nhận thấy giá hàng hóa đang tăng lên nhưng lạm phát tổng thể lại không tăng tương ứng, một hiện tượng không phù hợp với mô hình của các chu kỳ tăng trưởng trước đó.
Theo biên bản cuộc họp của Fed năm 1994, Greenspan đã nói với các nhà hoạch định chính sách rằng: “Chúng ta đang có một nền kinh tế không giống bất cứ điều gì từng trải qua trong 30 năm trước đó. Rất có thể chúng ta đang chứng kiến mức tăng năng suất phi thường, giúp giữ chi phí lao động trên mỗi đơn vị sản phẩm ở mức thấp.”
Nhận định này sau đó trở thành nền tảng cho quan điểm của Greenspan rằng công nghệ và đổi mới có thể làm thay đổi giới hạn tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ, cho phép tăng trưởng cao hơn trong thời gian dài mà không nhất thiết dẫn đến lạm phát gia tăng.
Khi giai đoạn tăng trưởng kéo dài của kinh tế Mỹ cuối cùng cũng xuất hiện những dấu hiệu quá nóng rõ rệt, Greenspan cho thấy ông không chỉ giỏi duy trì đà tăng trưởng mà còn thành thạo trong việc hạ nhiệt nền kinh tế.
Dưới sự lãnh đạo của ông, Fed đã nâng gấp đôi lãi suất, đưa mức lãi suất cơ bản lên 6% nhằm kiềm chế lạm phát. Sau đó, khi áp lực giá cả dịu bớt, Fed tiếp tục cắt giảm lãi suất ba lần trong năm 1995, mở đường cho một chu kỳ tăng trưởng mới mà không đẩy nền kinh tế vào suy thoái trước đó.
Đây chính là kịch bản mà các nhà kinh tế gọi là "hạ cánh mềm" (soft landing), tức kiểm soát lạm phát thành công mà vẫn duy trì được tăng trưởng kinh tế. Greenspan sau này gọi đây là “một trong những thành tựu đáng tự hào nhất của Fed trong suốt nhiệm kỳ của tôi”.
Ngoài tác động tích cực đối với kinh tế Mỹ, thành công trong việc kiểm soát lạm phát giữa thập niên 1990 còn củng cố vị thế gần như tuyệt đối của Greenspan trong lĩnh vực chính sách tiền tệ, ảnh hưởng kéo dài trong nhiều năm sau đó.
Theo nhà viết tiểu sử Sebastian Mallaby, sau giai đoạn này, các thành viên Hội đồng Thống đốc Fed hiếm khi công khai thách thức quan điểm của Greenspan.
“Sau đó, các thống đốc Fed hầu như không còn đặt ra thách thức đáng kể nào đối với Greenspan. Kỷ nguyên của một vị chủ tịch Fed mang tính ‘đế vương’ bắt đầu,” Mallaby viết. Nhận xét này phản ánh mức độ ảnh hưởng đặc biệt của Greenspan trong nội bộ Fed, nơi tiếng nói của ông ngày càng mang tính quyết định đối với định hướng chính sách tiền tệ của Mỹ.
Ông Alan Blinder, người từng không thành công trong nỗ lực thuyết phục Fed giảm tốc độ tăng lãi suất khi giữ chức phó chủ tịch, kể với nhà viết tiểu sử Sebastian Mallaby rằng ông đã rút ra một bài học quan trọng: “Đừng bao giờ bất đồng với Greenspan về chiến thuật. Ông ấy sẽ giỏi hơn bạn.”
Laurence Meyer, thành viên Hội đồng Thống đốc Fed từ năm 1996 đến 2002, cũng viết rằng khi kết thúc nhiệm kỳ, ông “không chắc mình đã từng ảnh hưởng đến kết quả của bất kỳ cuộc họp nào”. Meyer mô tả đó là “một trong những khía cạnh gây thất vọng khi phục vụ trong FOMC dưới thời Greenspan”.
Trong một nghiên cứu công bố năm 2005, chỉ vài tháng trước khi Greenspan nghỉ hưu, Blinder và đồng nghiệp tại Đại học Princeton là Ricardo Reis đã dành nhiều lời khen ngợi cho ông, gọi Greenspan là “một chủ tịch Fed thành công đáng kinh ngạc”.
Tuy nhiên, hai tác giả cũng lưu ý đến điều họ gọi là “sự cá nhân hóa cực độ của chính sách tiền tệ dưới thời Greenspan”, ở mức gần với một “sùng bái cá nhân”. Họ đặt câu hỏi liệu mô hình đó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến các đời chủ tịch và hội đồng lãnh đạo Fed trong tương lai.
Người kế nhiệm Greenspan là Ben Bernanke sau đó đã đưa Fed rời xa cách điều hành mang tính tùy nghi dựa nhiều vào cá nhân lãnh đạo. Bernanke áp dụng mục tiêu lạm phát rõ ràng và công bố các dự báo về lộ trình lãi suất, giúp thị trường hiểu rõ hơn định hướng chính sách.
Trong cuốn sách xuất bản năm 2022, Bernanke cho rằng những thay đổi này đã “giúp chính sách tiền tệ trở nên minh bạch hơn đáng kể”.
Với sự hỗ trợ của Craig Torres
Theo Bloomberg
Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn
https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/cuu-chu-tich-fed-alan-greenspan-qua-doi-o-tuoi-100-58755.html
Tặng bài viết
Đối với thành viên đã trả phí, bạn có 5 bài viết mỗi tháng để gửi tặng. Người nhận quà tặng có thể đọc bài viết đầy đủ miễn phí và không cần đăng ký gói sản phẩm.
Bạn còn 5 bài viết có thể tặng
Liên kết quà tặng có giá trị trong vòng 7 ngày.
BÀI LIÊN QUAN