Chiếm chưa đến 3% nhưng FDI tạo ra gần 30% doanh thu, việc làm và quỹ lương

BBWV - Chưa đến 3% doanh nghiệp FDI tại Việt Nam tạo ra gần 30% doanh thu, việc làm và quỹ lương, giữ vai trò lớn trong sản xuất và xuất khẩu.

Hình ảnh: TTXVN

Hình ảnh: TTXVN

Tác giả: Thục Hân

18 tháng 08, 2026 lúc 3:15 PM

Tóm tắt bài viết bởi

logo
  • Theo báo cáo của OECD, giai đoạn 2006-2023, doanh nghiệp FDI chiếm dưới 3% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam nhưng tạo ra 27% doanh thu và 29% việc làm.
  • Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2023, khu vực FDI thể hiện vai trò áp đảo khi tạo ra 78,5% tổng doanh thu và chiếm tới 89,7% việc làm.
  • Báo cáo chỉ ra năng suất lao động toàn nền kinh tế của khối FDI năm 2023 thấp hơn doanh nghiệp nội địa 18%, nhưng lương bình quân lại cao hơn 21%.
  • Giai đoạn 2020-2025, khoảng một nửa dòng vốn FDI đăng ký mới tại Việt Nam tập trung vào các lĩnh vực xanh hoặc số hóa, mở ra xu hướng mới.
  • Dù vậy, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển của các dự án FDI mới giai đoạn 2020-2024 chỉ đạt 1,9-2%, thấp hơn trung bình ASEAN và OECD.

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chỉ chiếm chưa đến 3% tổng số doanh nghiệp chính thức tại Việt Nam trong giai đoạn 2006-2023, nhưng lại tạo ra tỉ trọng rất lớn về doanh thu, việc làm và thu nhập cho người lao động. Những con số này cho thấy vai trò đặc biệt của khu vực FDI trong nền kinh tế, đồng thời đặt ra yêu cầu mới về việc nâng chất lượng dòng vốn ngoại và tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với khu vực trong nước.

Theo Báo cáo FDI Qualities Review of Viet Nam 2026 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), trong gần hai thập niên từ 2006 đến 2023, doanh nghiệp FDI chiếm chưa đến 3% tổng số doanh nghiệp chính thức tại Việt Nam. Tuy nhiên, khu vực này tạo ra khoảng 27% tổng doanh thu, 34% quỹ lương và 29% việc làm chính thức của toàn bộ nền kinh tế.

Khoảng cách giữa tỉ trọng về số lượng và đóng góp kinh tế phản ánh một đặc điểm quan trọng của khu vực FDI tại Việt Nam: số lượng doanh nghiệp không lớn nhưng quy mô hoạt động và mức độ tập trung lao động cao hơn đáng kể so với phần lớn doanh nghiệp trong nước.

Quy mô trung bình của một doanh nghiệp FDI vào khoảng 250 lao động, lớn hơn doanh nghiệp trong nước từ 10 đến 15 lần. Khoảng 20% hoạt động của khu vực FDI cũng diễn ra bên ngoài hai trung tâm kinh tế lớn là Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ, cho thấy tác động của dòng vốn ngoại đã lan rộng hơn thay vì chỉ tập trung tại các cực tăng trưởng truyền thống.

Đóng góp của khu vực này đặc biệt rõ nét trong công nghiệp chế biến, chế tạo, lĩnh vực giữ vai trò trung tâm trong mô hình xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2023, doanh nghiệp FDI tạo ra 78,5% tổng doanh thu của ngành, chiếm 79,7% quỹ lương và tới 89,7% việc làm. Với lao động nữ, tỉ lệ việc làm do khu vực FDI tạo ra còn cao hơn, ở mức 88,9%.

chart FDI

Tính trên toàn nền kinh tế, khoảng 4 trong 10 lao động nữ có việc làm chính thức đang làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Những con số này phần nào lý giải vì sao FDI vẫn được xem là một trong những động lực quan trọng của quá trình công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế của Việt Nam. Dòng vốn ngoại không chỉ bổ sung vốn cho nền kinh tế mà còn tạo ra số lượng lớn việc làm chính thức, đặc biệt trong các ngành sản xuất định hướng xuất khẩu.

Thực tế, mức độ hội nhập thương mại của Việt Nam đã tăng rất nhanh trong hơn hai thập niên qua. Tỉ lệ thương mại trên GDP hiện gần 200%, trong khi năng suất lao động tăng bình quân khoảng 4,5% mỗi năm trong giai đoạn 2000-2023. Việt Nam cũng đứng thứ ba Đông Nam Á về tổng vốn FDI đăng ký tích lũy trong giai đoạn 2010-2024.

Tuy nhiên, quy mô đóng góp lớn không đồng nghĩa khu vực FDI đã khai thác hết tiềm năng tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế Việt Nam.

Một điểm đáng chú ý trong báo cáo OECD là năng suất lao động của khu vực FDI, nếu tính trên toàn nền kinh tế, trong năm 2023 lại thấp hơn khu vực doanh nghiệp trong nước khoảng 18%. Cùng thời điểm, mức lương bình quân tại doanh nghiệp FDI cao hơn doanh nghiệp trong nước khoảng 21%.

Sự khác biệt này có nguyên nhân quan trọng từ cơ cấu ngành. Các doanh nghiệp FDI tập trung rất lớn vào công nghiệp chế biến, chế tạo, nơi sử dụng nhiều lao động và có chuỗi sản xuất mang tính quốc tế cao. Khi loại trừ ngành chế tạo, năng suất lao động của khu vực FDI cao hơn doanh nghiệp trong nước khoảng 15%, trong khi mức lương cao hơn gần gấp đôi.

Điều đó cho thấy bài toán đối với Việt Nam hiện nay không còn đơn thuần là thu hút thêm vốn FDI mà là làm thế nào để nguồn vốn này tạo ra nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế.

chart  fdi OCED

Một trong những vấn đề được quan tâm là mức độ liên kết giữa doanh nghiệp FDI với khu vực doanh nghiệp trong nước. Theo OECD, trong giai đoạn 2016-2020, doanh nghiệp FDI sử dụng khoảng 60% tổng đầu vào từ thị trường trong nước. Tuy nhiên, chỉ 21% số đầu vào mua trong nước đến từ các doanh nghiệp FDI khác.

Con số này cho thấy phần lớn đầu vào của khu vực FDI đã được mua trong nước, nhưng mức độ hình thành mạng lưới cung ứng giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa vẫn còn dư địa để mở rộng.

Nếu các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia, tác động lan tỏa của FDI sẽ không chỉ dừng ở việc tạo việc làm hay xuất khẩu. Khi đó, vốn ngoại có thể thúc đẩy cả năng lực sản xuất, tiêu chuẩn quản trị, công nghệ và năng suất của khu vực doanh nghiệp trong nước.

Điện tử là ví dụ rõ nhất cho cả thành công và thách thức của mô hình này. Năm 2023, doanh nghiệp FDI chiếm khoảng 93% tổng sản lượng ngành điện tử. Trong khi đó, tỉ trọng hàng công nghệ cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu chế tạo của Việt Nam đạt 44%, cao hơn đáng kể mức trung bình 21% của các nước OECD.

Những con số này cho thấy Việt Nam đã trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất công nghệ toàn cầu. Nhưng tỉ lệ sở hữu và kiểm soát của doanh nghiệp nước ngoài trong các ngành công nghệ cao cũng đồng thời đặt ra câu hỏi về khả năng doanh nghiệp Việt Nam tham gia ở những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.

Một trong những hướng đi đang được kỳ vọng là chuyển dòng vốn FDI từ mô hình dựa nhiều vào lao động và mở rộng công suất sang các dự án công nghệ, số hóa, nghiên cứu phát triển và sản xuất xanh.

Dữ liệu những năm gần đây cho thấy xu hướng này đã bắt đầu xuất hiện. Trong giai đoạn 2020-2025, khoảng một nửa tổng vốn FDI đăng ký mới được ghi nhận trong các lĩnh vực xanh hoặc số. Riêng năm 2022, tỉ lệ này có thời điểm lên gần 90%.

Năng lượng tái tạo cũng ngày càng trở thành một lĩnh vực quan trọng đối với dòng vốn ngoại. Tỉ trọng vốn FDI đăng ký mới vào năng lượng tái tạo tăng từ 7,6% trong giai đoạn 2014-2018 lên 14,7% giai đoạn 2019-2023.

Sự thay đổi này diễn ra đồng thời với quá trình chuyển dịch cơ cấu năng lượng của Việt Nam. Công suất điện mặt trời và điện gió tăng từ dưới 1% tổng công suất nguồn điện năm 2017 lên khoảng 28% vào năm 2023. Nếu tính cả thủy điện, nguồn điện từ năng lượng tái tạo đã đóng góp hơn một nửa tổng sản lượng điện.

Doanh nghiệp FDI cũng có lợi thế nhất định về hiệu quả sử dụng năng lượng và quản trị môi trường. Theo OECD, hiệu quả sử dụng năng lượng của doanh nghiệp FDI cao gấp đôi doanh nghiệp trong nước. Tỉ lệ áp dụng các biện pháp quản lý năng lượng cũng cao gấp đôi, trong khi tỉ lệ doanh nghiệp giám sát phát thải CO2 cao gấp ba lần.

Dù vậy, một khoảng cách đáng kể vẫn tồn tại trong hoạt động nghiên cứu và phát triển. Trong giai đoạn 2020-2024, các dự án FDI mới dành khoảng 1,9-2% tổng vốn đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển. Con số này thấp hơn mức trung bình 3,7% của OECD và 2,5% của ASEAN.

Ở quy mô toàn nền kinh tế, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển của Việt Nam mới tương đương khoảng 0,4% GDP. Điều này cho thấy để chuyển từ một trung tâm sản xuất sang một nền kinh tế có năng lực sáng tạo và làm chủ công nghệ cao hơn, Việt Nam không chỉ cần thu hút các dự án FDI lớn mà còn phải tạo điều kiện để các tập đoàn nước ngoài đặt hoạt động nghiên cứu, thiết kế và phát triển sản phẩm tại Việt Nam.

Đào tạo nhân lực cũng là một kênh quan trọng để tạo ra tác động lan tỏa. Khoảng 20% doanh nghiệp FDI thực hiện các chương trình đào tạo chính thức cho người lao động, cao gấp đôi tỉ lệ của doanh nghiệp trong nước. Đây là một lợi thế đáng kể trong quá trình nâng cao kỹ năng lao động, song đồng thời cho thấy phần lớn doanh nghiệp vẫn chưa có chương trình đào tạo chính thức.

Sau gần 40 năm thu hút FDI, Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn khác của câu chuyện vốn ngoại. Mục tiêu không còn chỉ là thu hút càng nhiều vốn càng tốt mà là lựa chọn những dự án có khả năng tạo ra năng suất cao, công nghệ mới, việc làm chất lượng và liên kết sâu với doanh nghiệp Việt Nam.

Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn

https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/chua-den-3-doanh-nghiep-tao-ra-gan-30-doanh-thu-viec-lam-va-quy-luong-59815.html

#FDI
#Doanh nghiệp FDI
#Việt Nam
#kinh tế Việt Nam
#OECD
#FDI Qualities Review
#Công nghiệp chế biến chế tạo
#Đông Nam Bộ
#Đồng bằng sông Hồng
#Lao động nữ
#Xuất khẩu Việt Nam

Mới nhất

Videos mới nhất