Thái Lan và Việt Nam đi tìm lời giải chuyển dịch năng lượng như thế nào?

BBWV - Cùng thúc đẩy chuyển dịch năng lượng nhưng chính sách thực hiện của Thái Lan và Việt Nam lại rất khác nhau.

Hình ảnh: Bloomberg

Hình ảnh: Bloomberg

Tác giả: Thục Hân

03 tháng 11, 2026 lúc 5:00 PM

Nội các Thái Lan ngày 27.10 đã phê duyệt chương trình hỗ trợ điện mặt trời mái nhà trị giá 50 tỉ baht (khoảng 1,48 tỉ USD), hướng đến một triệu hộ gia đình trong cả nước. Theo chương trình, mỗi hộ đủ điều kiện được hỗ trợ tối đa 50.000 baht để mua thiết bị và lắp đặt hệ thống điện mặt trời. Đây là một trong những chương trình hỗ trợ năng lượng tái tạo quy mô lớn nhất của Thái Lan dành trực tiếp cho người dân.

Cùng thời điểm, Việt Nam đang mở rộng cơ chế khuyến khích điện mặt trời mái nhà theo hướng tự sản xuất, tự tiêu thụ và cho phép bán phần điện dư lên hệ thống điện quốc gia. Nghị định 243/2026/NĐ-CP ban hành ngày 26.6 nâng tỷ lệ điện dư được phép bán từ 20% lên tối đa 50% sản lượng điện phát tại đầu ra inverter trong điều kiện thông thường.

Sự khác biệt đáng chú ý nằm ở công cụ chính sách. Thái Lan sử dụng ngân sách để hỗ trợ trực tiếp chi phí đầu tư ban đầu của hộ gia đình, trong khi Việt Nam tập trung điều chỉnh cơ chế mua bán điện nhằm cải thiện hiệu quả tài chính của các hệ thống đã và sẽ được lắp đặt. Cả hai đều hướng đến việc huy động nguồn lực xã hội cho chuyển dịch năng lượng, nhưng lựa chọn những cách khác nhau để giảm rào cản tham gia.

Theo thông tin từ Chính phủ Thái Lan, chương trình People's Solar mở đăng ký từ ngày 27.10.2026 đến 31.1.2027, thông qua các cơ quan điện lực đô thị và tỉnh. Mỗi hộ gia đình có thể nhận khoản hỗ trợ 50.000 baht cho hệ thống điện mặt trời công suất từ 5-10 kWp. Tổng ngân sách 50 tỉ baht được phân bổ cho tối đa một triệu trường hợp.

Chính sách hướng đến người có quốc tịch Thái Lan, sử dụng điện sinh hoạt và có tên trùng với chủ sở hữu công tơ điện tại địa điểm lắp đặt. Hệ thống phải được triển khai thông qua các đơn vị lắp đặt được đăng ký với cơ quan điện lực. Người nhận hỗ trợ cần hoàn thành thủ tục kết nối lưới điện trước ngày 30.9.2027.

Tại Việt Nam, cơ chế hiện hành không quy định một khoản trợ cấp tiền mặt tương tự cho mỗi hộ gia đình. Nghị định 58/2025/NĐ-CP và các điều chỉnh sau đó tạo khung pháp lý cho điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ. Theo Nghị định 243, hộ gia đình sử dụng nhà ở riêng lẻ, doanh nghiệp và một số nhóm công trình đủ điều kiện có thể bán phần điện dư theo quy định.

Việc nâng tỷ lệ điện dư được phép bán lên 50% có ý nghĩa đối với bài toán hoàn vốn. Trước đây, giới hạn 20% khiến nhiều chủ đầu tư phải tính toán công suất hệ thống sát với nhu cầu sử dụng tại chỗ. Khi tỷ lệ được nâng lên, lượng điện không tiêu thụ hết có thêm khả năng tạo doanh thu, giúp cải thiện tính toán hiệu quả đầu tư. Trong một số trường hợp đáp ứng điều kiện về khả năng tiếp nhận của lưới điện và an toàn vận hành, cơ chế còn cho phép thỏa thuận mua bán vượt mức 50% đến hết năm 2030.

Hỗ trợ vốn trực tiếp hay cải thiện hiệu quả đầu tư?

Điểm đáng chú ý trong chương trình của Thái Lan là chính phủ không chỉ đưa ra khoản trợ cấp 50.000 baht. Các hộ gia đình còn có thể lựa chọn chính sách ưu đãi thuế đối với chi phí mua thiết bị và lắp đặt điện mặt trời, với mức khấu trừ tối đa 200.000 baht theo quy định mới. Hai hình thức hỗ trợ không được sử dụng đồng thời.

Chính sách này tạo ra hai lựa chọn cho người dân tùy thuộc vào khả năng tài chính và nghĩa vụ thuế. Khoản trợ cấp 50.000 baht có thể giúp giảm trực tiếp chi phí đầu tư, trong khi ưu đãi thuế phù hợp hơn với những hộ có khoản thu nhập chịu thuế và chi phí lắp đặt lớn. Tuy nhiên, mức khấu trừ 200.000 baht không đồng nghĩa với việc chính phủ hoàn trả 200.000 baht tiền mặt cho mỗi hộ.

thailand vs vietnam

Ngoài hỗ trợ ngân sách, Thái Lan cũng làm việc với các ngân hàng nhà nước để cung cấp khoản vay ưu đãi lãi suất khoảng 2,5% mỗi năm, kỳ hạn khoảng bảy năm, cho những hộ cần thêm vốn. Cơ chế này giúp giải quyết một trong những rào cản lớn nhất của điện mặt trời mái nhà: người sử dụng phải bỏ ra khoản tiền đáng kể trước khi có thể tiết kiệm hóa đơn điện trong nhiều năm tiếp theo.

Việt Nam chưa có chương trình trợ cấp đại trà cùng quy mô cho hộ gia đình. Cơ chế chính sách hiện tại chủ yếu tạo điều kiện để người dân và doanh nghiệp tự đầu tư hệ thống, sử dụng điện tại chỗ và thu hồi một phần vốn thông qua bán điện dư. Đây là cách tiếp cận giảm áp lực trực tiếp lên ngân sách nhà nước, song khả năng tham gia vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn tự có, khả năng vay và thời gian hoàn vốn của từng chủ đầu tư.

Sự khác biệt này thể hiện rõ ở nhóm hộ gia đình có thu nhập trung bình và thấp. Tại Thái Lan, khoản hỗ trợ 50.000 baht giúp giảm một phần chi phí ban đầu, dù người dân vẫn phải đáp ứng điều kiện về công suất, thiết bị và kết nối lưới điện. Tại Việt Nam, hộ gia đình muốn lắp đặt hệ thống thường phải tự cân đối chi phí thiết bị, inverter, hệ thống điện và có thể cả pin lưu trữ.

Đối với doanh nghiệp, bài toán có phần khác. Những nhà máy có diện tích mái lớn, hoạt động sản xuất vào ban ngày và nhu cầu điện ổn định có thể khai thác tốt điện mặt trời tự sản xuất. Tại Việt Nam, việc tăng giới hạn bán điện dư giúp cải thiện hiệu quả sử dụng công suất lắp đặt. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải tính toán quy mô hệ thống theo nhu cầu thực tế, điều kiện đấu nối và khả năng tiếp nhận của lưới điện tại khu vực.

Thái Lan cũng đặt trọng tâm vào việc mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp và hộ gia đình thông qua cơ chế mua lại điện dư. Theo chương trình People's Solar, người tham gia có thể bán tối đa 5 kW điện dư trên mỗi công tơ với giá 2,20 baht/kWh trong thời hạn 20 năm. Cơ chế này tạo thêm nguồn thu để bù đắp chi phí lắp đặt, bên cạnh khoản trợ cấp ban đầu.

Ở Việt Nam, giới hạn bán điện dư được tính theo tỷ lệ sản lượng phát tại đầu ra inverter, không phải một mức công suất cố định áp dụng cho mọi hộ gia đình. Nghị định 243 cũng mở rộng nhóm nguồn điện được tham gia mua bán, trong đó có hệ thống điện mặt trời mái nhà tại nhà ở riêng lẻ, công trình tài sản công và một số khu vực miền núi, biên giới, hải đảo. Cách thiết kế này tạo ra phạm vi áp dụng rộng hơn, nhưng đòi hỏi cơ quan quản lý và đơn vị điện lực phải xác định rõ điều kiện đấu nối đối với từng loại hệ thống.

Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn

https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/thai-lan-va-viet-nam-di-tim-loi-giai-chuyen-dich-nang-luong-nhu-the-nao-61307.html

Mới nhất

Videos mới nhất