Những lý do việc khôi phục giao thông bình thường qua eo biển Hormuz sẽ không hề dễ dàng

BBWV - Việc đưa giao thông tại eo biển Hormuz trở lại mức trước chiến tranh – nếu ngày đó thực sự đến – sẽ đối mặt với những thách thức lớn.

Tác giả: Alaric Nightingale và Paul Burkhardt

17 tháng 06, 2026 lúc 4:40 PM

Tóm tắt bài viết bởi

logo
  • Mỹ và Iran cam kết mở lại Eo biển Hormuz, trong khi thị trường Kalshi dự báo xác suất giao thông bình thường là 51% trước ngày 1 tháng 8.
  • Mối đe dọa từ thủy lôi và bạo lực khiến thủy thủ lo ngại, dù lệnh ngừng bắn giữa Mỹ và Iran đã được duy trì từ ngày 8 tháng 4.
  • Tổ chức BIMCO đề xuất Liên Hợp Quốc hoặc quốc gia trung lập điều phối quá cảnh, khi Iran và Oman muốn tự quyết định dịch vụ hàng hải tại đây.
  • Tổng thống Donald Trump tuyên bố không trả phí đi qua eo biển, và Ông Mike Wirth, Giám đốc điều hành Chevron Corp., cũng khẳng định công ty sẽ không nộp tiền.
  • Theo Rystad Energy, việc tái thiết cơ sở hạ tầng dầu khí tiêu tốn 42 tỷ USD, và sản lượng dự kiến chỉ phục hồi hoàn toàn vào tháng 1 năm 2027.

Mỹ và Iran đã cam kết mở cửa trở lại Eo biển Hormuz, động mạch hàng hải quan trọng nhất thế giới đối với việc vận chuyển dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, nơi đã bị phong tỏa phần lớn kể từ khi hai nước nổ ra chiến tranh vào tháng Hai. 

Thị trường dự đoán Kalshi đưa ra xác suất 51% giao thông sẽ trở lại bình thường trước ngày 1 tháng 8 và 68% trước ngày 1 tháng 9.

Dưới đây là cái nhìn cận cảnh về những trở ngại chính:

Iran được cho là đã rải thủy lôi tại tuyến đường hàng hải thông thường qua eo biển Hormuz – nơi kết nối Vịnh Ba Tư với Ấn Độ Dương và nằm giữa Iran ở phía bắc cùng Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) và Oman ở phía nam. Mối đe dọa từ thủy lôi đã buộc các tàu thuyền phải di chuyển áp sát đường bờ biển của Iran hoặc gần Oman hơn. Việc sử dụng tuyến đường phía nam do lực lượng Mỹ giám sát đã giúp dòng chảy dầu mỏ nhích tăng lên. Nhưng câu hỏi về việc các tuyến đường thay thế có thể gánh được bao nhiêu lượng phương tiện giao thông thì vẫn chưa được kiểm chứng đầy đủ.

Việc rà phá sạch thủy lôi ở khu vực giữa kênh đào sẽ giúp dòng chảy hàng hóa trở lại bình thường. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa rõ ai sẽ đảm nhận nỗ lực này và các tàu rà phá thủy lôi sẽ được bảo vệ như thế nào. Bản thân công việc này có thể mất tới hàng tuần.

Bên cạnh mối đe dọa từ thủy lôi, còn có nguy cơ xảy ra bạo lực tiếp diễn có thể ảnh hưởng đến các tàu bè và thủy thủ đoàn. Lệnh ngừng bắn mong manh mà Mỹ và Iran duy trì kể từ ngày 8 tháng 4 vẫn chưa thể chấm dứt hoàn toàn các cuộc giao tranh. Theo Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) thuộc Liên Hợp Quốc, đã có ít nhất 14 thủy thủ thiệt mạng trong cuộc xung đột này, và có 46 cuộc tấn công gây hư hại cho các tàu thuyền.

Các thủy thủ tàu buôn vốn luôn lo ngại khi phải làm việc trong các vùng xung đột ngay cả vào những thời điểm yên bình nhất, vì vậy ngành vận tải biển muốn nghe những cam kết rõ ràng từ cả Mỹ và Iran rằng các hành động thù địch đã thực sự chấm dứt. Ngay cả khi đó, một số chủ tàu cho biết nhiều thủy thủ đoàn có thể vẫn ngần ngại quay trở lại Vịnh Ba Tư, điều này có thể làm giảm số lượng tàu thuyền di chuyển đến khu vực này để nhận hàng.

Cho đến trước khi chiến tranh nổ ra, quyền tự do hàng hải tại eo biển Hormuz luôn được coi là điều hiển nhiên (với một vài ngoại lệ), tương tự như ở tất cả các eo biển hàng hải lớn khác. Hiện chưa rõ liệu điều này có tiếp tục được duy trì trong tương lai hay không. Hãng thông tấn bán chính thức Fars của Iran đưa ra thông tin rằng việc quản lý "các dịch vụ hàng hải" tại eo biển này trong tương lai sẽ do Iran và Oman quyết định.

Một số chủ tàu chia sẻ với Bloomberg rằng họ thà không bị buộc phải liên lạc với bất kỳ ai, đặc biệt là với một chính quyền Iran hiện vẫn đang chịu các lệnh trừng phạt của Mỹ, khi đang di chuyển qua những vùng nước vốn dĩ phải tuân theo các quy tắc tự do hàng hải.

Hội đồng Hàng hải Quốc tế và Baltic (BIMCO), tổ chức thương mại hàng đầu thế giới dành cho các chủ tàu, cho biết cần phải làm rõ ai (nếu có) sẽ là bên điều phối các chuyến quá cảnh trong tương lai. Tổ chức này gợi ý rằng một cơ quan thuộc Liên Hợp Quốc hoặc một quốc gia trung lập có thể tham gia vào việc này.

Vẫn chưa rõ liệu các tàu thuyền có bị tính phí khi đi qua eo biển Hormuz hay không. Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố họ sẽ không phải trả. Trong khi đó, Iran cho biết giai đoạn miễn phí cho các tàu sẽ kết thúc sau 60 ngày.

Vào tháng 4, tổ chức IMO của Liên Hợp Quốc tuyên bố rằng không có cơ sở pháp lý nào cho việc thu phí qua eo biển Hormuz, và Mỹ trước đây cũng từng tuyên bố việc trả những khoản phí này sẽ là một hành vi đáng bị trừng phạt. Do đó, các chủ tàu đang rất hoang mang trước viễn cảnh phải trả tiền cho Iran để được đi qua và đối mặt với nguy cơ bị chính quyền trừng phạt của Mỹ đưa vào danh sách đen. Đồng thời, ít nhất một quan chức cấp cao của chính phủ Mỹ thừa nhận rằng việc trả phí quá cảnh có thể trở thành một khả năng phải tính đến.

Các tập đoàn năng lượng lớn có xu hướng phản đối bất kỳ loại thuế hay phí nào. Giám đốc điều hành của Chevron Corp., ông Mike Wirth, phát biểu trên Bloomberg Television vào tháng 5 rằng công ty của ông sẽ không xem xét việc trả tiền để đi qua eo biển.

Sản lượng dầu khí bị đình trệ có lẽ là trở ngại lớn nhất đối với việc bình thường hóa hoàn toàn dòng chảy thương mại qua Eo biển Hormuz. Trước chiến tranh, nơi này xử lý khoảng 1/5 nguồn cung dầu mỏ và khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) của thế giới. Việc gia tăng sử dụng các tuyến đường tránh do chiến tranh thúc ép đã làm giảm vai trò trung tâm của eo biển này, nhưng cũng chỉ giảm đi một phần nhỏ.

Trong một số trường hợp, hoạt động sản xuất dầu khí bị ngừng trệ vì khi eo biển Hormuz bị phong tỏa, việc xuất khẩu trở nên bất khả thi. Việc đóng cửa một giếng dầu, ngay cả khi tự nguyện, có thể làm giảm hiệu suất của giếng đó và gây ra những tổn thất vận hành trong dài hạn. Trong các trường hợp khác, thiệt hại do chiến tranh đã gây ra tình trạng đóng cửa. Theo Rystad Energy, việc tái thiết cơ sở hạ tầng dầu khí trong khu vực sẽ tiêu tốn khoảng 42 tỷ USD.

Trong khi cơ sở hạ tầng khởi động lại, các tàu chở dầu trước đây từng phục vụ tại Vịnh Ba Tư – vốn đã phân tán sang các tuyến đường khác hoặc bị giải thể – sẽ cần phải được định vị lại vị trí. Các nhà phân tích của Rystad cho biết việc này sẽ mất khoảng hai tháng. Họ đánh giá rằng sự gia tăng lớn về sản lượng từ khu vực này sẽ diễn ra vào tháng 8 và tháng 9 khi các mỏ dầu khôi phục năng suất. Họ dự kiến khoảng 85-90% sản lượng bị mất sẽ được phục hồi vào đầu quý 4 năm nay, và chỉ đạt mức 100% vào tháng 1 năm 2027.

Theo Bloomberg

Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn

https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/nhung-ly-do-viec-khoi-phuc-giao-thong-binh-thuong-qua-eo-bien-hormuz-se-khong-he-de-dang-58652.html

#Eo biển Hormuz
#Mỹ Iran
#Vận chuyển dầu
#khí đốt tự nhiên
#Chiến tranh Hormuz
#An ninh hàng hải
#Thủy lôi
#Rà phá thủy lôi
#Vịnh Ba Tư
#Ấn Độ Dương