Chuyển dịch dòng vốn FDI vào Việt Nam cho thấy: Năng lực nội địa hóa là chìa khóa cho tương lai

BBWV - Việt Nam hưởng lợi khi vốn FDI rời Trung Quốc nhưng cũng bộc lộ nhược điểm của một trung tâm xuất khẩu vì thiếu độ sâu trong chuỗi cung ứng nội địa, theo báo cáo từ Hinrich Foundation.

Bên trong nhà máy Asia Vital Components tại Việt Nam. Hình ảnh: Linh Pham

Bên trong nhà máy Asia Vital Components tại Việt Nam. Hình ảnh: Linh Pham

Tác giả: Linh Chi

14 tháng 01, 2026 lúc 3:36 PM

Sự dịch chuyển của dòng vốn FDI từ Trung Quốc sang các quốc gia trong châu Á như Việt Nam, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia không còn ở giai đoạn tìm kiếm chi phí sản xuất thấp, mà đã bước vào giai đoạn sàng lọc khắt khe về năng lực nội địa hóa. Nêu dẫn chứng sự sụt giảm dòng vốn vào các ngành cốt lõi của Việt Nam trong năm 2025 so với Malaysia, báo cáo mới công bố của Hinrich Foundation xem đó là tín hiệu cho thấy lợi thế từ chiến lược Trung Quốc+1 đang chạm tới giới hạn nếu mô hình tăng trưởng dựa trên xuất khẩu không sớm khỏa lấp được các điểm mù về độ sâu chuỗi cung ứng.

Dữ liệu từ báo cáo của Hinrich Foundation chỉ ra sự phân cực rõ rệt trong nhóm các trung tâm xuất khẩu tại châu Á: Trong khi dòng vốn vào các lĩnh vực cốt lõi như bán dẫn và ô tô tại Việt Nam sụt giảm từ 80–88% trong giai đoạn tháng 4 đến tháng 9.2025, thì Malaysia vẫn tiếp tục ghi nhận dòng vốn mới. Đây là hệ quả của xu hướng tái phân bổ FDI vốn đã bắt đầu từ giai đoạn 2018 - 2022, khi dòng vốn vào Trung Quốc giảm hơn 66% và chuyển dịch sang phần còn lại của châu Á với tỉ lệ 65%.

Điều này, theo nhóm nghiên cứu, cho thấy xu hướng dịch chuyển của vốn FDI khỏi Trung Quốc, nhưng vẫn ở lại châu Á, cụ thể là vào bốn quốc gia Việt Nam, Ấn Độ, Malaysia và Indonesia (VIMI). Tỉ trọng thu hút vốn FDI của nhóm này trong năm 2019 là 33% và đã tăng lên 57% vào năm 2024. 

Tuy có điểm chung về những lợi thế thu hút đầu tư, các quốc gia thuộc nhóm bốn nước kể trên có các lợi thế khác biệt. Dữ liệu cho thấy ba mô hình chính: Lợi thế về thị trường nội địa, tài nguyên thiên nhiên và vai trò của một trung tâm xuất khẩu (export platform). 

Lực lượng lao động cạnh tranh, khung chính sách hỗ trợ và hạ tầng tương đối tốt giúp Malaysia và Việt Nam trở thành các cơ sở sản xuất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư hướng tới hiệu quả và xuất khẩu. Các quốc gia này không chỉ cung cấp năng lực sản xuất thay thế, mà còn có các ưu đãi chính sách FDI, hạ tầng cải thiện liên tục và mức độ ổn định địa chính trị tương đối.

Việt Nam nổi lên như một điểm đến then chốt của dòng vốn FDI theo chiến lược Trung Quốc+1. Quốc gia có nhiều lợi thế nền tảng như lực lượng lao động trẻ, chi phí thấp hơn Trung Quốc khoảng 60%, vị trí sát các trung tâm sản xuất phía Nam Trung Quốc và khả năng tiếp cận thị trường Mỹ, châu Âu thông qua các FTA. 

Dòng vốn FDI vào Việt Nam tăng đều trong giai đoạn trước đại dịch và tiếp tục được thúc đẩy sau căng thẳng thương mại Mỹ–Trung, củng cố vai trò của Việt Nam như trung tâm xuất khẩu trong mô hình nhà máy châu Á (Asia Factory). 

Tuy nhiên, các chính sách về thuế quan tập trung vào nguồn gốc xuất xứ đang bộc lộ điểm mù của mô hình lấy xuất khẩu là nền tảng tại Việt Nam, thể hiện qua dòng vốn vào các lĩnh vực cốt lõi bắt đầu chậm lại tại Việt Nam. 

Trong giai đoạn tháng 4 đến tháng 9.2025, vốn FDI vào các lĩnh vực cốt lõi tại Việt Nam như bán dẫn, ô tô OEM và thiết bị công nghiệp sụt giảm mạnh, với mức giảm từ 80–88% so với cùng kỳ.

Ngược lại, Malaysia, trung tâm xuất khẩu có cấu trúc tương đồng, vẫn ghi nhận dòng vốn mới, đặc biệt trong lĩnh vực bán dẫn. Theo nhóm nghiên cứu, dù có mô hình tương tự là nền kinh tế dựa trên xuất khẩu, lợi ích đối với Việt Nam và Malaysia lại trái ngược. 

Nguyên nhân cốt lõi khiến Việt Nam hụt hơi so với các quốc gia cùng mô hình như Malaysia nằm ở thiếu độ sâu trong chuỗi cung ứng nội địa. Khoảng một nửa doanh nghiệp FDI tại Việt Nam phụ thuộc vào đầu vào nhập khẩu, trong đó đầu vào từ Trung Quốc chiếm 13% tổng giá trị sản xuất, cao gấp đôi MalaysiaTrong các ngành như điện tử, doanh nghiệp nội địa chủ yếu tham gia ở các khâu giá trị thấp như bao bì, nhựa, logistics, trong khi các linh kiện cốt lõi vẫn phải nhập khẩu.

Chính sự phụ thuộc này khiến Việt Nam dễ rơi vào “vùng xám xuất xứ” khi Mỹ và các thị trường lớn tăng cường điều tra trung chuyển. Vai trò là trung tâm xuất khẩu của các doanh nghiệp có nguồn gốc Trung Quốc càng khiến Việt Nam bị giám sát chặt chẽ hơn, làm gia tăng rủi ro đối với các dự án FDI mới trong những ngành nhạy cảm.

Nhóm nghiên cứu nhận định, chiến lược Trung Quốc+1 bước vào giai đoạn mới, khi khả năng thu hút vốn FDI nằm ở năng lực nội địa hóa, khả năng chứng minh giá trị gia tăng và tuân thủ quy tắc xuất xứ.

Với Việt Nam, câu hỏi hiện nay là mô hình xuất khẩu hiện tại có được nâng cấp đủ nhanh để vượt qua bài kiểm tra mới của dòng vốn toàn cầu. Nếu không, lợi thế tích lũy trong thập kỷ qua có nguy cơ bị bào mòn ngay trong chính giai đoạn tái cấu trúc tiếp theo của chuỗi cung ứng châu Á.

Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn

https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/von-fdi-roi-trung-quoc-diem-mu-cua-viet-nam-lo-dien-55993.html

#vốn FDI
#Việt Nam
#Trung Quốc
#xuất khẩu

Gói đăng ký