Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Chuyên mục
Media
Báo cáo đặc biệt
Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Khám phá nhiều hơn với tài khoản
Đăng nhập để lưu trữ và dễ dàng truy cập những bài viết bạn yêu thích trên Bloomberg Businessweek Việt Nam.
BBWV - Một nhà sinh học tiến hóa trở lại New Zealand và phát hiện những loài chim quý hiếm mà ông từng mơ được nhìn thấy thời thơ ấu đang có màn trở lại phi thường.
Tác giả: Carl Bergstrom
16 tháng 10, 2026 lúc 10:10 PM
Tóm tắt bài viết bởi
Một nhà sinh học tiến hóa trở lại New Zealand và phát hiện những loài chim quý hiếm mà ông từng mơ được nhìn thấy thời thơ ấu đang có màn trở lại phi thường.
Gió từ biển thổi những giọt hơi nước ngưng tụ vào sườn đồi phủ đầy cây kim tước. Chiếc áo sơ mi khoác ngoài của tôi ướt sũng, còn kính mắt phủ một lớp sương mịn. Phía dưới rất xa, thủ đô Wellington của New Zealand bị che khuất trong tầng mây, cũng là nguồn gốc tên gọi ban đầu của đất nước này: Aotearoa, "vùng đất của đám mây trắng dài". Những người đồng hành với tôi, các nhà sinh học bảo tồn địa phương, đang cất một chiếc ăng-ten radio và thu dây một con chó.
Tôi đang bế một con kiwi bốn tháng tuổi.
Dù kiwi là biểu tượng quốc gia, rất ít người New Zealand từng nhìn thấy loài chim này trong tự nhiên. Điều đó thật đáng tiếc, bởi kiwi là một sinh vật đặc biệt ấn tượng. Với chiếc mỏ dài, đôi mắt nhỏ và phần hông khổng lồ, một con kiwi trưởng thành trông như thể một nhà nhồi xác động vật điên rồ đã khâu mỏ của một con chim choi choi vào mặt một con chuột chù, rồi ghép toàn bộ phần đó vào nửa thân sau đầy lông của một con capybara.
Trong 80 triệu năm trước khi con người xuất hiện, New Zealand là vùng đất không có động vật có vú trên cạn, và là vùng đất rộng lớn nhất như vậy trên Trái đất. Các loài chim nơi đây tiến hóa mà không có những loài săn mồi trên cạn, nhiều loài vì thế đã mất khả năng bay. Những ổ sinh thái do động vật có vú chiếm giữ ở các nơi khác trên hành tinh hoàn toàn bỏ trống. Takahē và kākāpō thay thế thỏ và thỏ rừng, còn kiwi, loài ăn côn trùng hoạt động lặng lẽ về đêm, đảm nhận vai trò của chuột nhắt và chuột chù.
Con người đã làm thay đổi hệ sinh thái đó. Phần lớn vùng hoang dã rừng rậm của Aotearoa biến thành đồng cỏ chăn nuôi, trong khi những loài săn mồi có vú du nhập tàn phá hệ động vật bản địa, vốn tiến hóa mà không có cơ chế phòng vệ trước chúng. Trong vòng 700 năm, khoảng 40% số loài chim đặc hữu đã tuyệt chủng.
Nhưng trong nửa thế kỷ qua, New Zealand đã triển khai một nỗ lực phi thường nhằm khôi phục các quần thể chim bản địa còn sót lại, bằng cách kiểm soát động vật săn mồi và đưa những loài chim có nguy cơ tuyệt chủng đến các khu bảo tồn được bảo vệ. Con kiwi tôi đang bế là một sản phẩm nhỏ bé của cuộc thử nghiệm đó, đồng thời cho thấy nhiều điều đã thay đổi kể từ lần đầu tôi đến New Zealand 45 năm trước.
Năm 1981, gia đình tôi chuyển đến Úc trong tám tháng. Tôi khi đó 10 tuổi và say mê các loài chim. Tôi kinh ngạc trước những con vẹt kêu inh ỏi trên các cây bạch đàn, rồi dành những giờ giải lao ở trường để quan sát chim choi choi săn giun trên sân bóng bầu dục. Chúng tôi cũng đến Aotearoa, nơi những loài chim khiến tôi có cảm giác chúng mang màu sắc thần thoại hơn là đời thường. Tôi đọc ngấu nghiến về những loài đặc biệt của vùng đất này, nhưng chúng dường như cũng không thực hơn hay dễ tiếp cận hơn loài moa cao 12 foot đã tuyệt chủng từ một thiên niên kỷ trước.
Loài tôi yêu thích nhất là takahē, một loài chim Rallidae khổng lồ không biết bay, lạch bạch qua những bãi cỏ cao như một con khủng long. Takahē có màu sắc rực rỡ, với chiếc mỏ đỏ khổng lồ, đôi chân khỏe, khuôn mặt và phần ngực xanh thẫm. Đôi cánh ngắn, ánh lên sắc xanh lục, che giấu những chiếc cựa sắc nhọn mà chúng sử dụng trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ.
Năm 1981, khả năng nhìn thấy một con takahē gần như bằng không. Chưa đến 100 con còn tồn tại, và cho đến năm 1948, người ta vẫn cho rằng loài này đã tuyệt chủng. Phần lớn sống ở những khu vực hẻo lánh và không được phép tiếp cận trên Đảo Nam, còn trong các vườn thú thì không có con nào.
Vì thế, tôi đã làm điều mà bất kỳ đứa trẻ 10 tuổi nào cũng sẽ làm: giả vờ. Loài pūkeko phổ biến, hay chim đầm lầy Australia, có màu sắc rực rỡ giống takahē, dù hình dáng và phong thái thì khác. Tôi tưởng tượng mình là một nhân viên kiểm lâm đang băng qua dãy núi Murchison, rồi khiến những người lớn tuổi mê chim khó chịu bằng cách hét lên "takahē!" mỗi khi nhìn thấy một con pūkeko.
Ngày nay, người New Zealand không còn phải giả vờ nữa. Có thể dễ dàng nhìn thấy takahē hoang dã tại một số khu bảo tồn. Trên toàn thế giới vẫn chỉ có khoảng 500 con, nhưng loài này đang trên đường phục hồi.
Trong chuyến đi gần đây để tìm kiếm những loài chim quý hiếm nhất Aotearoa, tôi hạ cánh xuống Rakiura, một vùng đất xa xôi và gần như không có người ở ngoài khơi bờ biển phía nam của Đảo Nam. Sau nhiều ngày di chuyển từ Seattle, một chuyến lái xe dài ở phía bên trái đường và chuyến bay thót tim qua eo biển Foveaux đầy bão tố trên một chiếc máy bay cánh quạt tám chỗ, tôi đi bộ lên căn cabin rồi đổ xuống giường trong bộ quần áo nguyên vẹn.
Ba giờ sau, tôi tỉnh giấc vì tiếng hót siêu nhiên. Một con chim hút mật đen bóng, với bộ lông trắng trang trí trông như khăn ascot và cổ áo ren, đang vo ve, kêu bíp, líu lo và huýt sáo ngay bên ngoài cửa sổ.
Đồng nghiệp của tôi, Andrew Digby, một nhà sinh học bảo tồn dành tâm huyết cứu loài kākāpō không biết bay, có hình dáng giống cú, ở New Zealand, đề nghị thực hiện một chuyến đi bộ ban đêm. Ông viết: "Không hiếm khi bắt gặp kiwi quanh các con đường."
Tôi bước đi trong ánh chiều tà mưa phùn hướng về ngọn hải đăng Ackers Point.. Ôi, những âm thanh của màn đêm! Đầu tiên là tiếng chim chuông và tūī hót mãi đến tận sau khi trời tối, rồi đến những tiếng lách cách và vo ve xa lạ của các loài côn trùng mùa hè. Cuối cùng, những tiếng thét hoang dã, đáng sợ vọng lên từ bụi cây. Tiếng kêu khàn khàn của một con kiwi cái dường như phát ra từ một con velociraptor chứ không phải một con chim.

Khi đi lên một đoạn dốc tối, tôi nghe thấy tiếng sột soạt chỉ cách vài mét phía trước. Tôi dùng màn hình điện thoại rọi một luồng sáng mờ về phía trước, và ở đó, gần như trong tầm với, một con kiwi nâu phương nam đang dùng chiếc mỏ dài bới lớp đất mềm trên đường mòn. Không hề để ý đến sự hiện diện của tôi, nó tìm kiếm quanh chân tôi, gạt lớp lá mục sang một bên. Cuối cùng, nó nhảy lên dốc và biến vào rừng. Những lời nói tự bật ra thành tiếng thì thầm, không cần suy nghĩ: "Tôi yêu bạn, kiwi." Rồi nó biến mất.
Là một giáo sư sinh học tiến hóa, tôi cố gắng giúp sinh viên hiểu khái niệm "thời gian sâu" kéo dài hàng trăm triệu năm về trước. Tôi chưa bao giờ cảm nhận trực giác rõ đến thế về khái niệm này như khi ở Rakiura, đi bộ xuyên qua những khu rừng dương xỉ cổ đại bên dưới dải ngân hà.
Aotearoa đã tách biệt với phần còn lại của thế giới trong 80 triệu năm, kể từ khi lục địa Zealandia chìm dưới nước tách khỏi siêu lục địa Gondwanaland. Đây là một trong những vùng đất cuối cùng có con người đặt chân đến, nhưng loài kiwi nhỏ bé kỳ lạ đã ở đó suốt thời gian ấy, lạch bạch qua lớp cây bụi dưới cùng một tán lá.
Hai tuần sau chuyến thăm Rakiura, tôi đang chụp ảnh những loài chim hót nhỏ không có đuôi, được gọi là rifleman, trong một khu bảo tồn không có động vật săn mồi và được rào kín ở trung tâm Wellington. Bên ngoài khung ngắm, tôi nhìn thấy một con chim màu xanh sáng, to bằng gà tây, đang sải bước về phía tôi giữa con đường đất. Cuối cùng, sau 45 năm: "Takahē!"
Đó là một con đực lớn tên là Bendigo. Ở phía cao hơn trong rừng, con mái Waitaa thận trọng quan sát. Chim non Hiwa ló đầu qua lưng bố trước khi sải bước về phía tôi để nhìn kỹ hơn. Bendigo phát ra tiếng cảnh báo trầm vang, một âm thanh hạ âm mà tôi cảm nhận được trong lồng ngực thay vì nghe bằng tai. Chim non lùi lại, còn tôi đứng im. Cuối cùng, hai con trưởng thành cảm thấy chán. Tôi không nguy hiểm cũng chẳng có ích gì cho chúng. Tất cả diễn ra ngay giữa thủ đô của đất nước.
Cuộc chạm trán đó có thể xảy ra nhờ một chiến lược bảo tồn được tiên phong từ những năm 1890 và áp dụng rộng rãi từ những năm 1960. Ở phần lớn thế giới, các mối đe dọa đối với công tác bảo tồn bắt nguồn từ mất môi trường sống, vì vậy các biện pháp ứng phó tập trung vào việc gìn giữ môi trường. Nhưng tại Aotearoa, những loài săn mồi du nhập, gồm chuột, chồn ermine, thú có túi possum, chồn sương và mèo hoang, tạo ra mối đe dọa cấp bách hơn.
Việc loại bỏ các loài này trên đất liền là bất khả thi, nên các nhà sinh học đã chọn một hướng đi khác, được gọi là đưa loài vào khu bảo tồn. Theo đó, các loài bị đe dọa được chuyển đến những khu bảo tồn và hòn đảo ngoài khơi, nơi động vật săn mồi có thể được kiểm soát. Chiến lược này đã thành công rực rỡ. Takahē là loài bản địa của Đảo Nam, nhưng cả 11 con tôi nhìn thấy đều ở các khu bảo tồn trên Đảo Bắc. Trong chuyến đi, tôi đã nhìn thấy 12 loài chim quý hiếm nhất thế giới, điều không thể xảy ra 50 năm trước.
Tuy nhiên, không thể tuyên bố chiến thắng chỉ dựa trên những quần thể nhỏ như vậy. Loài kea, những con vẹt núi đầy cuốn hút, gần như không phục hồi, hoặc nếu có thì cũng rất ít, kể từ khi tôi nhìn thấy chúng vào năm 1981. Các loài chim biển đang đối mặt với rủi ro nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu và hoạt động đánh bắt quá mức. Loài hải âu antipode và hải âu Savlin bay lượn phía sau thuyền của tôi ngoài khơi Rakiura đang ngày càng khan hiếm. Quần thể loài chim cánh cụt hohio quý hiếm nhất New Zealand trên đất liền đã giảm 80% trong hai thập kỷ qua.
Kiwi có thể sống 50 năm hoặc hơn, một vòng đời dài đáng kinh ngạc đối với một sinh vật nhỏ bé không biết bay. Tuổi thọ đó cũng là sản phẩm của lịch sử tiến hóa đặc biệt của New Zealand.
Trong hàng chục triệu năm, kiwi không có loài săn mồi tự nhiên nào ngoài đại bàng Haast, hiện đã tuyệt chủng. Những loài đối mặt với ít rủi ro từ động vật săn mồi có thể dành nhiều năng lượng hơn cho việc sống sót và ít năng lượng hơn cho việc sinh ra nhiều con non. Kết quả ở kiwi là điều các nhà sinh học tiến hóa gọi là "chiến lược vòng đời chậm". Chúng chỉ sinh một hoặc hai con mỗi năm, nhưng có thể tiếp tục sinh sản trong nhiều thập kỷ. Chiến lược này phát huy hiệu quả trong hàng triệu năm, cho đến khi các loài động vật có vú săn mồi xuất hiện.
Chiến lược vòng đời chậm là bản án tử hình đối với những loài chim chịu áp lực săn mồi nghiêm trọng. Nhưng kiwi có một lợi thế: kích thước lớn và đôi chân khỏe. Ngày nay, kẻ săn mồi nguy hiểm nhất đối với chúng là chồn ermine. Khi đạt khoảng 1,2 kilogram (2,7 pound), kiwi được xem là đã đạt "trọng lượng miễn nhiễm với chồn", đủ khả năng dùng đôi chân và móng vuốt mạnh mẽ để chống lại kẻ tấn công.
Vào buổi sáng cuối cùng ở đất nước này, người sáng lập Capital Kiwi Project Paul Ward và giám đốc vận hành Pete Kirkman gặp tôi tại khách sạn. Khi ngồi vào ghế sau chiếc SUV nhỏ của họ, tôi nhận ra mình có thêm một người đồng hành. Ash, một con chó chuyên nghiệp được huấn luyện để tìm kiwi, có 75% dòng vizsla, 25% không rõ nguồn gốc và 100% quyết tâm tìm kiếm kiwi hoang dã.
Chúng tôi lái xe qua thị trấn rồi tiến vào vùng đồi, nơi Capital Kiwi Project đã dành cả thập kỷ qua để khôi phục kiwi về những ngọn núi quanh Wellington. Trên đường đi, chúng tôi gặp Jeff Hall, một nhà sinh học bảo tồn có vóc dáng săn chắc, kết quả của 30 năm băng qua những khu vực hẻo lánh nhất đất nước. Chúng tôi đỗ xe rồi đi vào màn sương.
Jeff giơ chiếc ăng-ten radio màu cam lên, trong khi Ash chạy nhảy xung quanh, toàn thân căng lên vì phấn khích. Sau khi dùng thiết bị phát tín hiệu để thu hẹp vị trí, Jeff thấy con chó lao xuống một sườn đồi dốc rồi chỉ vào một bụi cây kim tước thấp, toàn thân run rẩy. Jeff thọc tay vào những chiếc gai và rút ra một con kiwi non có kích thước tương đương một con gà nhỏ.

Ôm con chim bằng một tay, Jeff kiểm tra lượng mỡ dự trữ trên cơ thể nó, đo mỏ bằng thước cặp, rồi đặt nó vào một chiếc túi cân kiwi đặc biệt được các nhà thiết kế phục trang tại Đoàn Ballet Hoàng gia New Zealand may riêng. Con chim của chúng tôi đạt trọng lượng miễn nhiễm với chồn chỉ trong bốn tháng, nhanh hơn nhiều so với tốc độ thường thấy ở kiwi trong môi trường rừng.
Paul suy đoán một khả năng là vùng đất chăn thả, nơi dự án thả những con chim của mình, giống như một siêu môi trường sống. Cây kim tước tạo nơi ẩn náu, trong khi đồng cỏ rộng mở tạo điều kiện cho một hệ sinh vật không xương sống dày đặc gồm giun và các loài khác làm thức ăn.
Sau khi hoàn tất việc đo đạc và tháo thiết bị theo dõi radio, Jeff trao con chim non cho tôi. Tôi vòng những ngón tay của một bàn tay quanh đôi chân khỏe của nó rồi áp cơ thể nó vào người mình. Con chim ngoan ngoãn trong vòng tay tôi. Bộ lông của nó nhẹ và xốp dù màn sương dày đặc. Những chiếc lông cứng dài như lông mi bao quanh đôi mắt đen, khó đoán. Tôi ghé sát mặt, nó có mùi bụi chuồng trại phảng phất dưới nắng.
Tôi trượt xuống sườn dốc về phía bụi cây kim tước. Đã đến lúc thả con chim non vào thiên đường của kiwi, nơi có nguồn thức ăn dồi dào, nhiều chỗ ẩn náu và không có loài săn mồi đủ lớn để gây hại. Một khi được tự do, con chim này có thể sống khỏe mạnh trên những ngọn núi này lâu hơn khoảng thời gian bất kỳ ai trong nhóm theo dõi chúng tôi còn bước đi trên Trái đất.
Cảm nhận được cơ hội trốn thoát, con chim bắt đầu vặn mình trong tay tôi. Tôi đưa nó ra phía trước rồi nới lỏng tay, đôi chân nó bắt đầu chạy ngay khi chạm đất. Chỉ trong chớp mắt, nó biến mất vào bụi cây.
"Tận hưởng 50 năm sắp tới nhé," tôi thì thầm, "hãy thật sự tận hưởng 50 năm đó."
Theo Bloomberg
Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn
https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/nhung-loai-chim-toi-cho-45-nam-de-duoc-nhin-thay-61006.html
Tặng bài viết
Đối với thành viên đã trả phí, bạn có 5 bài viết mỗi tháng để gửi tặng. Người nhận quà tặng có thể đọc bài viết đầy đủ miễn phí và không cần đăng ký gói sản phẩm.
Bạn còn 5 bài viết có thể tặng
Liên kết quà tặng có giá trị trong vòng 7 ngày.
BÀI LIÊN QUAN
Mới nhất
Videos mới nhất