Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Chuyên mục
Media
Báo cáo đặc biệt
Một sản phẩm của BEACON MEDIA
Khám phá nhiều hơn với tài khoản
Đăng nhập để lưu trữ và dễ dàng truy cập những bài viết bạn yêu thích trên Bloomberg Businessweek Việt Nam.
BBWV - Phòng thí nghiệm tự động của Conceivable đã giúp 19 em bé chào đời. Câu hỏi đặt ra là liệu hệ thống này có làm IVF tốt hơn con người hay không.
Hình ảnh: Unitree
Tác giả: Sarah Frier
12 tháng 01, 2026 lúc 7:01 PM
Tóm tắt bài viết
Startup Conceivable đã phát triển phòng thí nghiệm AURA tại Mexico City, sử dụng robot và AI để tự động hóa quy trình thụ tinh ống nghiệm (IVF), với mục tiêu tăng độ chính xác và hiệu quả.
Hệ thống AURA gồm sáu trạm, dùng cánh tay robot và thuật toán từ Baidu, công nghệ của Meta và SpaceX, đang thử nghiệm lâm sàng tại phòng khám Hope IVF trên 150 bệnh nhân.
Kết quả ban đầu cho thấy AURA tạo ra phôi nang đủ tiêu chuẩn cấy ghép trong 51% trường hợp, tương đương phương pháp thủ công, đồng thời giảm sự phụ thuộc vào tay nghề chuyên gia.
Conceivable hướng đến giảm chi phí IVF và tăng tỉ lệ thành công (37,5% ở Mỹ năm 2022), với mục tiêu chiếm 5% thị trường điều trị hiếm muộn toàn cầu, ước tính đạt 126 tỷ USD năm 2029.
Quỹ Acme Capital đã đầu tư vào Conceivable từ năm 2022, với đối tác Aike Ho và vợ Camilla Hermann đã có con nhờ phôi do AURA tạo ra, đánh dấu bước tiến quan trọng.
Tóm tắt bởi
Tại khu Polanco sang trọng của Mexico City, trong một tòa nhà nằm khuất phía sau một nhà hàng Nhật Bản, một phòng khám y khoa hiện đại ở tầng trên đang trưng bày sau lớp kính một thứ hoàn toàn mới. Đó là một dây chuyền lắp ráp robot dài hơn 5 mét, nặng hơn 2 tấn, mang tên AURA. Đây là phòng thí nghiệm thụ tinh nhân tạo vận hành bằng trí tuệ nhân tạo. Đồng thời, đây cũng là hệ thống cơ giới duy nhất trên thế giới có thể thực hiện trọn vẹn mọi công đoạn tạo ra phôi người, ít nhất là những bước có thể tiến hành bên ngoài cơ thể phụ nữ.
AURA gồm sáu trạm, sử dụng các cánh tay robot để điều khiển ống hút và đĩa petri. Hệ thống theo dõi và chọn lọc tinh trùng đang bơi, nhận diện trứng khỏe rồi kết hợp chúng để tạo thành hợp tử. Nếu mọi thứ diễn ra suôn sẻ trong buồng ấp của AURA, hợp tử sẽ phát triển thành phôi, rồi thành phôi nang có thể được chuyển vào tử cung và có thể lớn lên thành một em bé.
Phòng thí nghiệm này do một startup có trụ sở tại New York xây dựng. Hệ thống sử dụng các robot siêu chính xác vốn được Meta và SpaceX dùng để sản xuất phần cứng. Thuật toán tìm trứng trong hỗn hợp nang trứng lẫn máu được cải tiến từ công nghệ do tập đoàn Baidu của Trung Quốc phát triển. Các nhà sáng lập Conceivable cũng lấy cảm hứng từ liệu pháp tế bào T trong điều trị ung thư, một phương pháp dựa trên việc lấy tế bào ra khỏi cơ thể con người, can thiệp vào chúng rồi đưa trở lại.
Phòng khám y khoa Hope IVF, nơi đặt hệ thống này, thuộc sở hữu của một trong các nhà sáng lập. Hiện có khoảng 150 bệnh nhân đang tham gia thử nghiệm lâm sàng để đánh giá hiệu quả của AURA. Đôi khi, bệnh nhân còn chụp ảnh selfie cùng các robot. Khi máy móc xử lý tế bào người sống, lớp kính sẽ được làm mờ để bảo vệ quyền riêng tư, trong khi các kỹ thuật viên theo dõi toàn bộ quy trình từ một phòng điều khiển với nhiều màn hình.
Vào một buổi sáng tháng Tư đầy nắng, tại hành lang gần phòng thí nghiệm, các nhà sáng lập của công ty gặp nhau. Họ gồm Chủ tịch Joshua Abram, Giám đốc điều hành Alan Murray và Giám đốc y khoa Alejandro Chavez Badiola, người đồng thời trực tiếp điều trị cho bệnh nhân tại phòng khám. Họ trao đổi về làn sóng khách tham quan gần đây từ các chuỗi phòng khám tại Mỹ và Anh cũng như từ các trường đại học nghiên cứu. Những người này đến tận nơi để xem AURA vận hành. Nhóm sáng lập cũng bàn về việc nên ra mắt công nghệ vào năm tới cùng giới học thuật hay các chuỗi phòng khám thuộc sở hữu của quỹ đầu tư tư nhân, với điều kiện các thử nghiệm cho kết quả ngang bằng hoặc tốt hơn những phòng thí nghiệm IVF hàng đầu hiện nay.
Khác với Mỹ, điều trị hiếm muộn ở Mexico là một phần của dịch vụ chăm sóc y tế thông thường. Du lịch sinh sản tại đây đang bùng nổ, giúp việc tiến hành các thử nghiệm trên người trở nên dễ dàng hơn. Dù vậy, Mỹ vẫn là thị trường mục tiêu chính của Conceivable. Trong cuộc trò chuyện, các nhà sáng lập cho biết họ gần đây đã trao đổi với các quan chức Nhà Trắng về sắc lệnh hành pháp của Tổng thống Donald Trump nhằm khiến thụ tinh trong ống nghiệm trở nên rẻ hơn đáng kể. Theo ông Abram, phía chính quyền thậm chí còn đề nghị sẽ gỡ bỏ các rào cản pháp lý nếu cần.
Mục tiêu của Conceivable là mở rộng khả năng tiếp cận điều trị hiếm muộn bằng cách giảm sự phụ thuộc vào lao động tay nghề cao. Đồng thời, công ty muốn nâng tỉ lệ thành công của IVF, vốn theo dữ liệu năm 2022 của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ chỉ đạt 37,5% số ca điều trị. Công ty chưa công bố tỉ lệ sinh con chính thức, nhưng cho biết trong một chu kỳ điều trị, robot nguyên mẫu của họ tạo được phôi nang đủ điều kiện cấy ghép trong 51% trường hợp. Kết quả này tương đương với phương pháp làm thủ công tại Hope IVF.
Theo các nhà sáng lập, hiện nay các phòng khám hiếm muộn không thể đáp ứng đủ nhu cầu của những người mong muốn có con nhưng không thể thụ thai tự nhiên. Abram gọi ngành này là lĩnh vực y tế cao cấp dành cho người giàu. Trong khi đó, tỉ lệ sinh và số lượng tinh trùng đang suy giảm trên toàn cầu, còn con người ngày càng sinh con muộn hơn. Nếu xu hướng này tiếp diễn, nhu cầu điều trị hiếm muộn sẽ còn tăng mạnh.
Với Conceivable, vấn đề không nằm ở khoa học mà ở kỹ thuật. IVF càng chính xác và càng được chuẩn hóa, bệnh nhân càng phải trải qua ít chu kỳ kích trứng hơn. Điều này giúp giảm đau đớn, giảm chi phí và từ đó kéo theo nhu cầu điều trị tăng lên. Tầm nhìn dài hạn của công ty là một ngày nào đó, bệnh nhân chỉ cần gửi trứng và tinh trùng đông lạnh đến một siêu phòng thí nghiệm chứa đầy các hệ thống AURA. Tại đó, một chuyên gia phôi học cùng hai kỹ thuật viên sẽ giám sát toàn bộ quy trình. Khi ấy, robot có thể tạo ra hàng nghìn phôi mỗi ngày, so với chỉ vài trăm phôi nếu chỉ dựa vào con người.
Tuy nhiên, quá trình robot hóa này vẫn mang đậm yếu tố con người. Để thuyết phục nhà đầu tư và khách hàng tiềm năng, các nhà sáng lập, giống như nhiều công ty AI khác, phải liên tục quảng bá công nghệ và trình bày nó như một xu thế tất yếu. Họ thường xuyên tiếp đón lãnh đạo ngành y, gọi điện, thậm chí trực tiếp trả lời những bình luận hoài nghi trên LinkedIn.
Theo những người chỉ trích, tự động hóa có thể chỉ giúp các phòng khám tiết kiệm chi phí thay vì mang lại lợi ích cho bệnh nhân. Họ cũng cảnh báo rằng nếu xảy ra sai sót, những sai sót đó sẽ bị nhân rộng trên quy mô lớn. Ngoài ra, việc vận chuyển trứng và phôi đến rồi rời khỏi các siêu phòng thí nghiệm còn tiềm ẩn nguy cơ hư hại do quá trình đông lạnh và rã đông lặp đi lặp lại.
Một số người đặt ra những câu hỏi mang tính hiện sinh hơn. Con người đang ngày càng bị tách khỏi quá trình tạo ra sự sống. Trong một nghiên cứu năm 2022, Sivan Tamir thuộc Viện Gertner viết rằng việc đưa AI vào IVF vừa đầy hứa hẹn về mặt y học, vừa gây bất an về mặt đạo đức. Nguyên nhân là các hệ thống AI có thể đưa ra quyết định theo cách con người không hoàn toàn hiểu được, dẫn đến nguy cơ con người dần đánh mất quyền kiểm soát đối với việc sinh sản và sự tiếp nối của giống loài.
Con đường khả dĩ nhất để Conceivable thuyết phục nhà đầu tư, phòng khám và những bệnh nhân khao khát có con là chứng minh robot có thể làm tốt việc tạo ra con người hơn chính con người. Sau một cuộc trao đổi chiến lược với lãnh đạo đơn vị cung cấp thuốc cho thử nghiệm Merck, các nhà sáng lập dùng bữa tối cùng Aike Ho, đối tác tại quỹ Acme Capital. Ho là người viết tấm séc đầu tiên cho Conceivable vào năm 2022 và vài năm sau cùng vợ là Camilla Hermann tham gia thử nghiệm. Lần gần nhất Ho nhìn thấy các cỗ máy này, chúng vẫn chỉ là nguyên mẫu ở Guadalajara. Chính những nguyên mẫu đó đã tạo ra phôi cho hai vợ chồng, trong khi cả nhóm ăn mừng, theo lời Ho, như thể vừa phóng một quả tên lửa.
Một trong những phôi đó được chuyển vào tử cung của Hermann, người khi ấy có mặt tại Mexico City cùng Ho và đang mang thai được 22 tuần. Những tháng sau đó không hề dễ dàng. Thai kỳ phải đối mặt với những bất ổn y khoa không liên quan đến IVF, và một trong các nhà sáng lập Conceivable lâm bệnh nặng. Tuy vậy, đến tháng Chín, thành quả của các cỗ máy AURA đã mang lại cho cặp đôi đứa con đầu lòng.
“Mọi người nên hào hứng với điều này giống như thời điểm con người đặt chân lên Mặt Trăng,” Ho nói.
Kể từ khi “em bé ống nghiệm” đầu tiên ra đời tại Anh cách đây gần nửa thế kỷ, IVF luôn là một chủ đề nhạy cảm về mặt chính trị và xã hội. Trong suốt nhiều năm, phương pháp này chỉ được xem là lĩnh vực bên lề của y học chính thống. Dưới thời Tổng thống Bill Clinton, Mỹ cấm sử dụng ngân sách liên bang cho bất kỳ nghiên cứu nào liên quan đến việc hủy phôi người, điều có thể xảy ra trong quá trình IVF. Hệ quả là phần lớn các đổi mới sau đó diễn ra ở nước ngoài hoặc dựa vào nguồn vốn tư nhân. Gần đây, một số bang thậm chí còn trao cho phôi thai tư cách pháp lý như con người. Ngành điều trị hiếm muộn cũng đối mặt với khủng hoảng niềm tin sau các vụ nhầm lẫn quan hệ huyết thống gây chấn động, cùng làn sóng thâu tóm ồ ạt của các quỹ đầu tư tư nhân.
Dù vậy, khi cứ sáu người thì có một người không thể thụ thai tự nhiên và độ tuổi làm mẹ trung bình ngày càng tăng, nhu cầu từ phía người tiêu dùng vẫn đang tăng vọt. Theo Business Research, thị trường dịch vụ sinh sản toàn cầu được dự báo sẽ tăng từ 64 tỉ USD năm 2024 lên 126 tỉ USD vào năm 2029. Tại Mỹ, một số tập đoàn lớn đã bắt đầu hỗ trợ chi phí lấy trứng và điều trị hiếm muộn cho nhân viên, trong khi một số bang yêu cầu các công ty bảo hiểm chi trả trong những trường hợp nhất định.
Trong nhận thức công chúng, sinh sản cũng dần được gắn với tăng trưởng kinh tế. Điều này đặc biệt rõ ở phe bảo thủ, những người không muốn mở rộng lực lượng lao động thông qua nhập cư. Tại Thung lũng Silicon, một số nhà tương lai học thậm chí còn đặt việc sinh con bên cạnh các mối quan tâm khác như biohacking, kéo dài tuổi thọ hay tương lai của toàn nhân loại.
Trong bối cảnh đó, hàng loạt startup xuất hiện với lời hứa giúp người Mỹ sinh ra những đứa trẻ khỏe mạnh hơn. Có công ty huấn luyện AI để tư vấn phác đồ điều trị hiếm muộn. Có nơi dùng thuật toán để chọn tinh trùng chất lượng cao nhất hoặc phân tích gene của phôi. Các phòng thí nghiệm tại Mỹ và Hà Lan đang phát triển công nghệ tử cung nhân tạo nhằm duy trì sự sống cho trẻ sinh non. Cùng với đó là những thử nghiệm ban đầu nhằm tạo ra các tế bào giống trứng hoặc tinh trùng từ tế bào máu hay da bằng công nghệ tế bào gốc. Các nhà đầu tư cho rằng hướng đi này có thể mở ra khả năng tạo ra một đứa trẻ từ bất kỳ tế bào nào trong cơ thể. Viễn cảnh đó đặc biệt hứa hẹn với các cặp vợ chồng vô sinh hoặc đồng giới, khi họ có thể sinh con mang DNA của cả hai. Năm 2022, các nhà khoa học thậm chí còn tuyên bố đã tạo ra phôi chuột tổng hợp mà không cần trứng hay tinh trùng.
Ít nhất ở thời điểm hiện tại, việc sinh con có hỗ trợ vẫn chủ yếu diễn ra trong các phòng khám hiếm muộn hiện đại. Tại đây, tỉ lệ thành công đã gần như chững lại trong vài năm qua. Trong khi đó, quá trình tạo phôi, ngay cả ở những phòng thí nghiệm tốt nhất, vẫn gây tổn hại đáng kể cho cả trứng lẫn tinh trùng.
Quy trình này được thể hiện rõ tại phòng thí nghiệm thủ công của Hope IVF ở Mexico City, nằm ngay cạnh khu vực đặt các robot. Trước hết, tinh trùng phải được tách khỏi tinh dịch, một môi trường sẽ trở nên độc hại với tinh trùng theo thời gian. Để làm điều đó, kỹ thuật viên quay mẫu tinh dịch trong máy ly tâm ở lực 100 G. Sau đó, họ pha loãng hàng triệu tinh trùng trong dung dịch và đặt dưới kính hiển vi. Chuyên viên phôi học chọn một con, thường là con ở gần đầu ống hút nhất và có vẻ hoạt động bình thường, rồi dùng kim đập vào đuôi để làm nó bất động trước khi hút lên.
Với trứng, sau khi hút dịch nang ra khỏi buồng trứng, chuyên viên phôi học phải tìm trứng trong lớp dịch sền sệt. Sau đó, họ hút trứng vào ống để tạo ma sát và rửa sạch các tế bào bao quanh. Tiếp theo, họ chọc thủng lớp màng ngoài của trứng. Đây là thao tác không hề dễ, bởi áp lực từ kim tiêm khiến trứng bị ép dẹt trong khoảnh khắc trước khi đầu kim xuyên vào. Sau đó, họ đưa tinh trùng vào. Về bản chất, đây là một ca phẫu thuật ở cấp độ đơn bào.
Sau bước thụ tinh, hợp tử được chuyển vào lò ấp để theo dõi xem có phát triển thành phôi hay không. Nếu có, phôi sẽ được chuẩn bị để cấy ngay hoặc đem đi đông lạnh. Quá trình đông lạnh yêu cầu nhúng phôi vào dung dịch bảo quản ethylene glycol, hay còn gọi là chất chống đông, rồi thả vào nitơ lỏng để lưu trữ. Nếu thao tác không chuẩn, quá trình này có thể tạo ra bọt khí dẫn đến hình thành tinh thể băng. Khi rã đông, các tinh thể này có thể làm vỡ màng tế bào, khiến phôi không còn sử dụng được.
Quy trình robot của Conceivable kết hợp công nghệ riêng của công ty với các kỹ thuật và thiết bị cao cấp vốn chỉ xuất hiện ở những phòng thí nghiệm thủ công tiên tiến nhất thế giới. Thay vì dùng máy ly tâm, tinh trùng được tách khỏi tinh dịch bằng cách tự bơi qua một mê cung do robot tạo ra trong dung dịch trên đĩa petri. Thay vì chọn ngẫu nhiên và đập đuôi, thuật toán sẽ nhận diện, lựa chọn và làm bất động tinh trùng bằng laser. Công ty cũng dùng AI để nhận diện trứng trong dịch nang. Khi đến bước thụ tinh, robot sử dụng thuật toán phát triển từ công nghệ xe tự lái để dẫn tinh trùng tiếp cận trứng trong đĩa petri. Sau đó, robot tạo một vết rạch nhỏ hơn nhờ rung động từ mũi khoan siêu âm rồi đưa tinh trùng vào bên trong. “Mục tiêu của chúng tôi là luôn mang đến cho bạn chuyên viên phôi học giỏi nhất thế giới,” Abram nói.
Thông điệp mà Conceivable nhấn mạnh là các quy trình của AURA có thể được lặp lại hoàn hảo ở cấp độ vi mô, điều mà con người không thể làm được. Ngay cả chuyên viên giỏi nhất cũng có thể uống quá nhiều cà phê vào buổi sáng khiến tay run, hoặc vấp phải một sợi dây điện và làm rơi đĩa petri. Dù các phòng khám có nghĩa vụ tự báo cáo sai sót, bệnh nhân không phải lúc nào cũng được thông báo. Thay vào đó, phòng khám có thể chỉ nói rằng ca điều trị lần này không thành công.
Abram gọi cách tiếp cận điều trị hiếm muộn của nhiều bác sĩ là thủ công mỹ nghệ. Đây không phải một lời khen, mà ám chỉ sự khác biệt lớn về đào tạo, công nghệ và quy trình. Ông so sánh điều này với trải nghiệm điều trị đa u tủy của chính mình, căn bệnh ông đã chống chọi suốt hơn hai thập kỷ. Trong điều trị ung thư, các bệnh viện hàng đầu thường tuân theo những quy trình gần như giống hệt nhau.
Mô hình tài chính của các phòng khám hiếm muộn truyền thống đôi khi được xây dựng trên giả định rằng bệnh nhân sẽ cần nhiều chu kỳ lấy trứng. Điều này vô hình trung làm giảm động lực đạt thành công ngay từ lần đầu. Những chu kỳ này gây rất nhiều khó chịu cho bệnh nhân. Họ phải tiêm thuốc hai lần mỗi ngày vào bụng, mông hoặc đùi trong suốt hai tuần. Nếu không có bảo hiểm, chi phí có thể lên tới 30.000 USD cho một chu kỳ tại Mỹ. “Đó không phải là khoa học, đó là kinh doanh,” Abram nói.
Conceivable cho rằng độ chính xác của robot có thể giảm nhu cầu lặp lại nhiều chu kỳ như vậy. AURA có thể điều chỉnh ống hút 30 lần mỗi giây ở khoảng cách chỉ bằng một phần nghìn milimet. Robot cũng có thể nhúng phôi vào nitơ lỏng nhanh hơn công nghệ hiện tại tới 10 lần, ở tốc độ mà mắt người không thể theo kịp. Theo công ty, điều này giúp giảm số lượng và kích thước tinh thể băng xuống còn một phần mười. Abram ví khả năng kiểm soát của robot trong khâu này như một vận động viên nhảy cầu Olympic, trong khi con người thì chỉ nhảy ùm xuống nước.
Các nhà sáng lập cũng nhấn mạnh khả năng theo dõi toàn bộ thao tác của robot và tạo ra dữ liệu để thuật toán ngày càng được cải thiện. “Không một chuyên viên phôi học nào có thể nói chính xác họ đưa kim tiêm vào trứng theo góc bao nhiêu độ hay sâu đến mức nào,” Abram nói. “Nhưng với robot, chúng tôi có thể đo được mọi thứ. Đó sẽ là lượng dữ liệu vượt xa những gì người ta từng tưởng tượng.”
Tuy vậy, chưa chắc ngành công nghiệp hiện tại đã sẵn sàng đón nhận mức độ tiêu chuẩn hóa mà Conceivable theo đuổi. Trong nhiều trường hợp, chính sự khác biệt trong cách làm lại được xem là lợi thế cạnh tranh. “Tại sao họ phải dùng cùng một mô hình phòng thí nghiệm?”
Dina Radenkovic Turner, đồng sáng lập kiêm CEO của Gameto, công ty phát triển thiết bị giúp trứng non trưởng thành bên ngoài cơ thể phụ nữ để giảm số mũi tiêm hormone, đặt câu hỏi. Bà nói thêm rằng mình từng thấy các chuyên viên phôi học bật khóc khi xem những video về tương lai tự động hóa hoàn toàn, vì họ biết mình sẽ mất việc. Những người khác thì cho rằng các quy trình này không bao giờ có thể được chuẩn hóa hoàn toàn. Chẳng hạn, chuyên viên luôn phải ứng biến khi màng tế bào trứng dày hơn bình thường, hoặc khi phôi bị dính vào dụng cụ.
Những người sáng lập Conceivable nói rằng công ty không nhằm thay thế các chuyên viên phôi học. Thay vào đó, các “siêu phòng lab” tự động hóa sẽ giúp chuyên gia xử lý nhiều ca cùng lúc hơn. Cách làm này giúp giảm chi phí, đáp ứng nhu cầu tăng cao và vẫn giữ được việc làm cho tất cả mọi người. Mô hình này cũng mở ra khả năng đào tạo các bác sĩ sản khoa, vốn thường chỉ tham gia khi bệnh nhân đã mang thai, về kỹ thuật lấy trứng và chuyển phôi, để họ trực tiếp cung cấp dịch vụ điều trị hiếm muộn.
Quan điểm này nhận được sự đồng thuận rộng rãi trong ngành, nơi hệ thống hiện tại đang quá tải trước nhu cầu ngày càng lớn. Mỹ hiện có chưa đến 2.000 bác sĩ nội tiết sinh sản và số lượng chuyên viên phôi học tương đương. Khác với bác sĩ nội tiết, họ không phải là bác sĩ y khoa. Trong khi đó, cả nước có tới 38.000 bác sĩ sản khoa. Vì thiếu nhân lực, một số phòng thí nghiệm đã phải nới lỏng tiêu chuẩn an toàn. Các giám đốc phòng khám nói với Businessweek rằng họ buộc phải yêu cầu chuyên viên làm việc ngoài giờ thường xuyên hơn, kể cả trong hai ngày cuối tuần.
Trong bối cảnh đó, Conceivable dự đoán rằng chỉ cần tự động hóa được 5% thị trường điều trị hiếm muộn toàn cầu, công ty đã có thể xây dựng một mô hình kinh doanh thành công. “Alejandro, Alan và tôi thường hỏi nhau chúng tôi muốn bia mộ của mình được khắc những gì,” Abram nói. “Đó sẽ là: ‘Những người này là một phần của nhóm nhỏ đã giúp hàng triệu người có cơ hội sinh con, và công ty của họ góp phần tạo ra 5% số trẻ em được sinh ra trên thế giới.’ Và đây là những đứa trẻ mà trong điều kiện bình thường có lẽ đã không ra đời.” Khi Abram nói điều này vào tháng Năm, số trẻ được sinh ra từ các phôi do nguyên mẫu AURA tạo ra là 18. Đứa con của Ho và Hermann cũng sắp chào đời.
Những bước tiến ban đầu đó mang lại lợi thế cho Conceivable, nhất là khi tự động hóa phôi học khó đến mức nhiều đối thủ đã phải bỏ cuộc. Oma Fertility từng huy động hơn 71 triệu USD trước khi đóng cửa vào năm 2023. Cùng năm đó, Overture Life tuyên bố họ đã tạo ra những phôi “do robot làm ra” đầu tiên phát triển thành trẻ sơ sinh, với hai em bé chào đời tại New York. Tuy nhiên, khái niệm “do robot tạo ra” lại phụ thuộc nhiều vào cách định nghĩa. MIT Technology Review mô tả rằng “một kỹ sư không có nhiều kinh nghiệm về y học sinh sản đã dùng tay cầm PlayStation 5 của Sony để điều khiển kim của robot.”
Overture quảng bá một hệ thống dựa trên vi lưu, cho phép quy trình tiêm tinh trùng vào bào tương trứng, công đoạn trứng và tinh trùng được kết hợp thủ công trong IVF, diễn ra ngay trên một thiết bị để bàn. “Công trình của chúng tôi tại @OvertureLife vượt xa Conceivable, kẻ sao chép muôn thuở,” chủ tịch Martín Varsavsky viết trên X hồi tháng Tư. Tuy nhiên, những người am hiểu nội tình cho biết công ty đang gặp nhiều khó khăn với ý tưởng kỹ thuật phức tạp này. CEO Hans Gangeskar phủ nhận điều đó. Ông nói Overture chỉ tạm gác dự án để tập trung vào thiết bị đông lạnh trứng tự động, thứ mà họ cho là thiết yếu hơn để mở rộng khả năng tiếp cận IVF. Theo ông, công nghệ đông lạnh trứng tốt hơn sẽ “làm đảo lộn toàn bộ ngành” bằng cách mở rộng quy mô thị trường và kéo chi phí xuống.
Dù vậy, tất cả các startup này đều nói về việc dân chủ hóa khả năng tiếp cận điều trị hiếm muộn. Trên thực tế, những công cụ tốt hơn mà họ hứa hẹn không nhất thiết sẽ làm thay đổi số tiền bệnh nhân phải trả, bởi chi phí chủ yếu nằm ở giá thuốc và phí phòng khám. “Trong 30 năm làm nghề, tôi chưa từng thấy một đổi mới nào thực sự giúp giảm chi phí,” Eva Schenkman, giám đốc phòng thí nghiệm và giám đốc khoa học của ARTLab, nơi đào tạo các chuyên viên phôi học, nói. “Số tiền đó luôn chảy đi đâu đó và không bao giờ quay lại với bệnh nhân.” Theo bà, giả định rằng bệnh nhân có thể giảm số chu kỳ IVF vẫn là “một bước nhảy niềm tin rất lớn.”
Khi lần đầu gặp Businessweek vào năm 2023, Abram và Murray từng đùa rằng họ không giống mẫu người sẽ lập ra một công ty về sinh sản. Họ là hai doanh nhân nam ngoài 60 tuổi, với nền tảng sâu trong ngành quảng cáo. Abram cho biết mối quan hệ kéo dài một phần tư thế kỷ của họ bền chặt một phần nhờ “chuỗi đối thoại kiểu Socrates” không ngừng nghỉ.
Những công ty đầu tiên của họ phản ánh rõ xuất thân đó. Integral Ad Science tập trung vào việc đảm bảo quảng cáo trực tuyến được người thật nhìn thấy. Dstillery tự động mở rộng đối tượng quảng cáo bằng thuật toán so khớp mẫu. Một công ty khác, NeueHouse, xây dựng các không gian làm việc cộng tác cao cấp tại đô thị, theo mô hình một phiên bản WeWork sang trọng hơn. Integral lên sàn năm 2021. Dstillery vẫn là công ty tư nhân. NeueHouse nộp đơn phá sản theo Chương 7 vào tháng Chín, với lý do “gánh nặng nghĩa vụ tồn đọng.”
Trong suốt quá trình hợp tác, Abram thường đảm nhận vai trò kể chuyện và phát triển kinh doanh, còn Murray phụ trách vận hành. Nhiều năm liền, họ cùng đi taxi sau giờ làm từ văn phòng ở SoHo về Upper East Side, nơi mỗi người sống cùng vợ và các con trai.
Năm 2009, Abram được chẩn đoán mắc ung thư và được cho là chỉ còn sống từ 6 đến 18 tháng. Ông bắt đầu dành nhiều thời gian trong các phòng thí nghiệm, lấy mẫu và gửi đi phân tích. Ông cũng trải qua ghép tế bào gốc từ người em trai và liệu pháp tế bào tại Memorial Sloan Kettering. Theo lời ông, những phương pháp này đã mang lại cho mình “thêm vài năm.” Trong các lần đến bệnh viện, ông quan sát cách hệ thống vận hành và trao đổi với Murray.
“Luôn có một bài học, một câu chuyện và một mặt tích cực đến kỳ lạ,” Murray sau này viết trong một bản ghi nhớ gửi hội đồng quản trị Conceivable. Đến năm 2015, chính Murray cũng được chẩn đoán mắc ung thư ác tính và phải trải qua phẫu thuật khẩn cấp cùng bảy tháng hóa trị.
Vài năm sau đó, Abram biết một đồng nghiệp đang đông lạnh trứng. Ông tò mò không biết trứng được lưu trữ ở đâu, nhưng chính cô ấy cũng không rõ. Khi cùng nhau xem trang web của phòng khám, họ thấy hình ảnh trứng được bảo quản trong các bình chứa mà Abram mô tả với Businessweek là “những can sữa được đánh bóng sơ sài, như vừa mang từ trang trại vào,” với nhãn giấy và tên viết bằng bút dạ. Ông bị ám ảnh bởi khả năng bệnh nhân không thể chắc chắn thứ mình nhận lại có thực sự là của mình hay không. Trước đó, đã có những bài viết đau lòng về việc phôi bị thất lạc, bị dán nhầm nhãn, và trong một số trường hợp, phụ nữ mang thai và sinh con của người khác.
Từ đó, Abram và Murray nghĩ đến việc lưu trữ trứng và phôi sẽ trông như thế nào nếu áp dụng các nguyên lý của điện toán đám mây. Trong mô hình này, dữ liệu then chốt được phân bổ ở nhiều địa điểm để giảm rủi ro mất trắng. Bị thuyết phục, họ bước chân vào ngành sinh sản và thành lập TMRW Life Sciences để số hóa việc lưu trữ trứng và phôi, ứng dụng theo dõi sóng vô tuyến và robot.
Tại các hội chợ robot, hai người nhận thấy sự tương phản rõ rệt giữa những gì các phòng thí nghiệm xét nghiệm DNA và máu quy mô lớn đang làm và thực trạng của ngành phôi học. Các phòng thí nghiệm kia đã dùng robot để xử lý chất lỏng, tạo giọt hóa chất đồng nhất, đóng nắp ống nghiệm, di chuyển đĩa petri và thực hiện nhiều thao tác khác. Trong khi đó, lĩnh vực sinh sản tụt hậu đáng kể, một phần vì đây chỉ là một mảng nhỏ trong y học và các phòng khám đã quen với cách làm cũ. Họ kết luận rằng robot có thể tạo ra những phòng thí nghiệm tốt hơn, từ đó kích thích nhu cầu lớn hơn và dẫn đến sự ra đời của nhiều phòng khám hơn.
Để xây dựng một phòng thí nghiệm tự động, họ cần một công ty mới. TMRW không có chuyên gia về thị giác máy tính, quang học hay cơ điện tử. Bản thân công ty cũng đã rất vất vả để thuyết phục các phòng khám sử dụng dịch vụ lưu trữ của mình.
Robot cần được lập trình. Vì vậy, trong chuyến đi London, chuyến công tác cuối cùng trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát, Abram và Murray đã gặp Chavez-Badiola, một bác sĩ nội tiết sinh sản có uy tín với các phòng khám ở Guadalajara và Mexico City.
Chavez-Badiola nói với Businessweek rằng ông luôn bị dằn vặt bởi những giới hạn của ngành. “Hãy tưởng tượng,” ông nói, “bạn giỏi công việc của mình như tôi, mà vẫn phải gọi điện cho một nửa số bệnh nhân để báo tin xấu.” Tên tuổi ông được biết đến rộng rãi từ năm 2016, khi ông trở thành người đầu tiên tạo ra phôi từ ba người. Một bệnh nhân của ông mắc bệnh ty thể khiến mọi phôi của cô đều không thể phát triển. Ông đặt DNA của cô vào một trứng khỏe mạnh của người phụ nữ khác, kết hợp với tinh trùng của chồng cô, và cuối cùng giúp họ có con. Thủ thuật này là bất hợp pháp tại Mỹ.
Khi những tiêu đề “em bé ba bố mẹ” xuất hiện, Chavez-Badiola cho rằng chúng thiếu chính xác và giật gân. Ông không chùn bước. Một năm sau, khi đọc một cuốn sách về mô hình thống kê Bayes trên chuyến bay, ông nảy ra ý tưởng rằng phần mềm được huấn luyện bằng hình ảnh hiển vi có thể chọn tinh trùng và trứng tốt hơn, theo dõi sức khỏe của chúng và giám sát sự phát triển của phôi. Ông thuê kỹ sư phát triển phần mềm, hợp tác cùng Jacques Cohen, một chuyên viên phôi học có ảnh hưởng, và thành lập công ty IVF 2.0.
Khi Abram và Murray gặp Chavez-Badiola, Abram nói thẳng: “Chúng tôi có robot. Đội của anh có lo được phần ‘bộ não’ không?” Chavez-Badiola trả lời có. Ông nói các kỹ sư của mình ở Guadalajara có thể viết thuật toán, rồi quay về hỏi lại đội ngũ xem họ có thực sự làm được hay không.
Ở thời điểm đó, Abram và Murray cũng chưa có robot. Khi các hội chợ thương mại mở cửa trở lại sau đại dịch, Murray sang Đức, gặp các nhà cung cấp và dùng một túi nhỏ tế bào nghiên cứu động vật để kiểm chứng giả thuyết của hai người. Họ muốn biết liệu robot có thể di chuyển giao tử và phôi một cách chính xác và an toàn hay không.
Để tạo ra phòng lab tự động, Murray bắt đầu một chuyến tìm kiếm toàn cầu. Ông săn lùng các loại ống hút kỹ thuật số siêu chính xác, bộ đổi ống kính tự động và thiết bị định vị chuyển động. Ông cũng gặp các chuyên gia trong lĩnh vực bán dẫn, quang tử, ung thư học và giải trình tự gene. Sau trải nghiệm không mấy dễ chịu khi bán dịch vụ TMRW cho các phòng khám, hai người không có ý định ngay lập tức thay đổi quy trình phôi học.
Những robot họ lắp ráp cuối cùng, theo mô tả của Murray, luôn “cách giao tử thực tế hai lớp” ở mỗi bước. Kim tiêm, ống hút và đĩa petri tiếp xúc trực tiếp với trứng và tinh trùng, cùng hóa chất và dầu, đều đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ cho phép sử dụng trong phòng thí nghiệm phôi học. Theo lời Abram, phòng thí nghiệm tự động sẽ vận hành theo một quy trình chặt chẽ và làm những gì con người vẫn làm, nhưng tốt hơn.
Cách tiếp cận đó cũng đồng nghĩa với việc máy móc tương đối dễ bị sao chép nếu đối thủ muốn. “Không sao,” Abram nói. “Đến lúc đó, lượng dữ liệu của chúng tôi sẽ đủ lớn để tạo lợi thế thực sự.”
Khi Abram và Murray bắt đầu nói công khai về tương lai mà họ muốn tạo ra, Abram thường dùng khẩu hiệu: “15.000 USD. Không có em bé? Hoàn tiền.” Một số người trong ngành nhíu mày trước tuyên bố này. Một phần vì Conceivable không phải bên quyết định giá cho bệnh nhân. Một phần khác vì họ vẫn chưa chứng minh được robot của mình vượt trội hơn các chuyên viên phôi học.
Ho, nhà đầu tư mạo hiểm tại Acme, nói rằng bà đã biết mình muốn rót vốn vào một công ty có kế hoạch tự động hóa phôi học từ trước khi một công ty như vậy xuất hiện. Bà lo ngại nguy cơ suy giảm dân số và tác động tài chính có thể xảy ra. Theo bà, các nền kinh tế hiện đại cần nhiều trẻ em hơn, trước khi lực lượng lao động và người nộp thuế trở nên thiếu hụt. Bà cũng có nhiều bạn bè đang vật lộn với IVF.
Ho từng phải xạ trị ung thư tuyến giáp vào năm 2014, khi mới 24 tuổi, và nghĩ rằng mình có thể gặp khó khăn trong việc thụ thai. Khi mối quan hệ với Hermann trở nên nghiêm túc và hai người quyết định có con, IVF trở thành lựa chọn tất yếu. Vì vậy, Ho tiến hành thẩm định toàn diện ngành này, vừa với tư cách khách hàng tiềm năng, vừa với tư cách nhà đầu tư. Bà theo dõi các phòng thí nghiệm, trao đổi với các nhà nghiên cứu và gặp gỡ nhiều doanh nhân. “Bà ấy là người điều tra toàn diện nhất về toàn bộ quy trình IVF,” Louis Villalba, CEO của TMRW, nói.
Sau ba năm nghiên cứu, Ho đi đến kết luận rằng phòng thí nghiệm tự động là phiên bản đổi mới sinh sản duy nhất có thể “đầu tư mạo hiểm được,” tức có khả năng mang lại mức sinh lời gấp nhiều lần vốn bỏ ra. Lý do, theo bà, là IVF “rất thâm dụng lao động và rất khó tái tạo với hiệu suất cao.” Tuy nhiên, Ho cũng nhận ra rằng “trong lĩnh vực này có rất nhiều thứ mờ ám. Việc tìm được những đội ngũ và công ty làm việc bài bản và liêm chính khó hơn tôi tưởng rất nhiều.”
Villalba giới thiệu Ho với Abram và Murray vào năm 2022. Họ gặp nhau tại một quán cà phê kiểu hipster ở San Francisco. Ho nghĩ Abram trông khá lạc lõng trong chiếc áo vest được may đo chỉnh tề. Dù vậy, mối liên kết giữa ba người, đều là những người sống sót sau ung thư, hình thành gần như ngay lập tức. “Chúng tôi có một cách nhìn khá giống nhau về cuộc sống vì trải nghiệm đó,” Ho nói.
Khi ấy, công ty mới chỉ tồn tại dưới dạng ý tưởng. Dù Chavez-Badiola và đội ngũ kỹ sư tại IVF 2.0 đã viết các thuật toán xếp hạng trứng và chọn tinh trùng, Abram và Murray chỉ vừa rời TMRW và vẫn chưa bắt đầu thu thập linh kiện để thử nghiệm. Sau nhiều cuộc gặp và bữa tối, đến tháng 11.2022, Conceivable chính thức được thành lập. Tháng sau đó, Ho viết tấm séc đầu tiên cho công ty và gia nhập hội đồng quản trị.
Murray dựng các mô hình phòng thí nghiệm tự động bằng bìa carton. Nhóm khởi đầu với ba trạm: Chọn tinh trùng, chuẩn bị trứng và ICSI. Năm 2023, Conceivable bắt đầu thử nghiệm tại Guadalajara với tế bào sinh dục của chuột, chuột cống, cừu và linh trưởng. Ho đùa với cả nhóm rằng nếu tiến độ của họ trùng khớp với kế hoạch gia đình của bà, bà sẽ muốn tự mình dùng robot.
Đến Mùa Hè năm sau, Conceivable quyết định gọi thêm vốn để tài trợ cho thử nghiệm trên người. Các nhà đầu tư vẫn lắng nghe, nhưng lĩnh vực công nghệ sinh học khi đó đang sa sút. Không nhiều người tin rằng cú đột phá lớn tiếp theo sẽ đến từ hai cựu doanh nhân quảng cáo chế tạo robot phôi ở Mexico. Một số nhà đầu tư tiềm năng cũng không muốn bay tới tận nơi để xem robot hoạt động trong thực tế. Abram và Murray lo lắng đến mức từng cân nhắc thuê máy bay riêng để đưa mọi người đến. Cuối cùng, họ gom được 20 triệu USD, đủ để tiến hành thử nghiệm và mua toàn bộ linh kiện cho AURA. Hai nhà sáng lập đồng ý tạm thời không nhận lương.
Cũng vào thời điểm đó, câu nói đùa của Ho bắt đầu trở thành hiện thực. Bà trao đổi với Hermann về việc sẽ tuyệt vời thế nào cho công ty, và có lẽ cho cả nhân loại, nếu hai người tham gia thử nghiệm. Đứa con đầu tiên của họ có thể trở thành minh chứng cho sự thành công của phòng thí nghiệm robot này.
Hermann bị bất ngờ. “Xin lỗi, chúng ta đang gọi vốn hay đang xây dựng một gia đình?” Hermann nhớ lại mình đã nói. “Chúng ta có thể tách biệt hai việc này không?” Theo Hermann, Ho “đã đi trước cả 10 bước.”
Ho quyết định đưa Hermann đến tận nơi để xem nguyên mẫu AURA. Tại Guadalajara, Hermann bắt đầu nghĩ đến tác động của công nghệ này đối với chi phí IVF. Dần dần, bà cởi mở hơn với ý tưởng tham gia. Cuối cùng, họ quyết định tiến hành, sử dụng trứng của Ho và để Hermann mang thai.
“Đội ngũ Conceivable liên tục nói với chúng tôi rằng các bạn không cần phải làm điều này.” Ho lớn lên tại Indonesia trong một gia đình nhập cư, xuất thân từ nhiều thế hệ phụ nữ kiên cường. Mẹ bà từng là y tá, nhưng phải bắt đầu lại từ đầu khi gia đình chuyển sang Mỹ. Ho nhớ rằng mẹ bà thường chợp mắt dưới một tấm chăn SpongeBob trong xe, giữa các ca làm ở tiệm tóc của bà ngoại và các lớp học ban đêm tại Đại học Maryland. Ho sau đó theo học Yale College, viết luận văn về việc ra quyết định trong đầu tư mạo hiểm, rồi phát triển các ý tưởng kinh doanh mới tại JPMorgan Chase trước khi gia nhập Acme. “Tôi không biết cách nào khác,” bà nói.
Tuy vậy, khi Ho bắt đầu chu kỳ điều trị, các mũi tiêm hormone khiến bà gần như không nhận ra chính mình. Hermann thường về nhà và thấy Ho ngồi tuyệt vọng trên ghế sofa, van xin Hermann hãy dịu dàng hơn với bà. Họ quyết định rằng nếu có đứa con thứ hai, Ho sẽ không phải mang thai nữa. “Tôi đã nói: Em yêu, chuyện này không cần bàn nữa. Chị sẽ mang thai cả hai lần cho gia đình,” Hermann nhớ lại.
Trái lại, việc tìm tinh trùng lại dễ đến mức khó tin. Cặp đôi chỉ cần lướt ứng dụng, chọn mẫu, đưa vào giỏ hàng và thanh toán bằng thẻ tín dụng.
Khi họ quay lại Guadalajara để lấy trứng, bác sĩ lấy được 15 trứng từ Ho. Năm trứng được chuyển cho một chuyên viên phôi học để thụ tinh. Năm trứng được đưa vào nguyên mẫu AURA. Năm trứng còn lại được đông lạnh để một phiên bản hoàn thiện của phòng thí nghiệm Conceivable xử lý sau này. Nói cách khác, họ không bỏ trứng vào một rổ.
Phần lớn mọi người không biết, chứ chưa nói đến việc chứng kiến, chính xác khoảnh khắc con mình được thụ thai. Sau khi quan hệ, tinh trùng có thể mất vài ngày để bơi tới trứng. Ngay cả khi đó, vẫn chưa có gì chắc chắn cho đến vài tuần sau, khi xét nghiệm thai xác nhận phôi đã làm tổ. Nhưng khi Ho tỉnh dậy sau thủ thuật, bà mặc đồ bảo hộ, vào phòng thí nghiệm và ôm Hermann khi cả hai nhìn robot thụ tinh cho trứng của mình. Nhân viên Conceivable tại Mexico City, London và New York cũng theo dõi qua Zoom. Với Ho và Hermann, khoảnh khắc đó mang cảm giác lãng mạn, thậm chí thiêng liêng.
Trong năm hợp tử do robot tạo ra, hai phát triển thành phôi nang có thể cấy ghép. Tỉ lệ này thấp hơn mức bốn trên năm khi do chuyên viên phôi học thực hiện, nhưng vẫn là một kết quả rất ấn tượng. Theo Ho, chính chuyên viên này đã chấm hai phôi từ robot nguyên mẫu ở mức chất lượng cao nhất. Hermann mang thai với một trong hai phôi đó vào tháng 1.
Trong các bài thuyết trình với nhà đầu tư, Conceivable cho biết khi được thử nghiệm riêng rẽ song song với phòng thí nghiệm thủ công, mỗi hệ thống của họ đều tạo ra tỉ lệ phôi nang từ 50% trở lên. Khi sử dụng đồng thời tất cả các hệ thống, tỉ lệ này được kỳ vọng sẽ tăng. Murray từ chối bình luận về các con số cụ thể, nhưng nói rằng “chúng tôi sẽ không bước ra thị trường cho đến khi biết chắc mình vượt trội hoàn toàn so với những phòng thí nghiệm tốt nhất thế giới.”
Dù công nghệ sinh sản có robot hỗ trợ đã tiến xa, giới công nghệ tại Thung lũng Silicon vẫn đặt ra tham vọng rất lớn. Kristina Simmons, nhà sáng lập và đối tác điều hành Overwater Ventures, đồng thời là nhà đầu tư vào Overture và Gameto, cho rằng thị trường đã sẵn sàng cho một bước ngoặt lớn. Theo bà, nhu cầu cực lớn đang gặp thời điểm công nghệ đủ chín muồi.
Những người khác lại chỉ ra bầu không khí hào hứng xoay quanh ý tưởng kiểm soát quá trình tạo ra sự sống bằng các thước đo và thuật toán được tối ưu. “Hãy tưởng tượng việc chúng ta chỉ cần lấy máu của bạn, tạo ra 1.000 hay 10.000 phôi bằng hệ thống tự động, rồi kiểm tra và chỉnh sửa gene trên tất cả các phôi,” D.A. Wallach, đối tác điều hành tại Time BioVentures, nói. “Từ đó, chúng ta có thể bắt đầu bằng việc loại bỏ mọi căn bệnh di truyền, rồi nghĩ đến việc chọn lọc hoặc thậm chí điều chỉnh đặc tính gene.”
Một số người điều hành phòng thí nghiệm lại không chia sẻ quan điểm này. “Tôi nghĩ chúng ta đang bám víu vào AI và robot như thể đó là vị cứu tinh của thế giới và, một cách thần kỳ, cải thiện tỉ lệ mang thai,” Alison Coates, giám đốc phòng thí nghiệm của Pinnacle Fertility Pacific Northwest, nói. Nếu đó chỉ là phiên bản robot của những gì con người đã làm, bà nói thêm, “tôi không nghĩ nó sẽ tạo ra sự khác biệt.”
Thực tế cũng cho thấy rằng, ít nhất ở thời điểm hiện tại, việc tạo phôi bằng IVF vẫn đòi hỏi quá trình lấy trứng rất đau đớn và tốn kém. Quá trình này phụ thuộc vào việc tử cung của người phụ nữ có chấp nhận việc cấy ghép phôi hay không. Sau đó là hành trình mang thai đầy bất định, với vô số rủi ro.
Tháng 6, khi Hermann và Ho đang thăm khu vực Vịnh San Francisco, Hermann bắt đầu khó thở. Họ đến phòng cấp cứu của Stanford Medicine, nơi bác sĩ chẩn đoán Hermann bị thuyên tắc phổi. Đây là một biến chứng hiếm gặp, nhưng dễ xảy ra với phụ nữ mang thai, những người có lượng máu nhiều hơn khoảng 50% so với bình thường. Các bác sĩ cũng phát hiện Hermann có yếu tố di truyền khiến máu dễ đông. Bà hồi phục, nhưng cần được theo dõi và dùng thuốc thường xuyên.
Trong lúc Ho còn đang xử lý những vấn đề đó, bà nhận được tin từ Abram. Ông báo rằng tình hình gọi vốn đã có tiến triển tích cực, khi đã có nhiều em bé được sinh ra từ phòng thí nghiệm robot. Advance Venture Partners sẽ dẫn dắt vòng gọi vốn tiếp theo.
Tuy nhiên, ông cũng nói thêm rằng bệnh ung thư của mình đã tái phát. Ông sẽ thử điều trị bằng liệu pháp kháng thể đơn dòng. “Trong trường hợp phương pháp này không hiệu quả,” ông nói, “có lẽ tôi chỉ còn rất ít thời gian.”
Vài tuần sau, Ho và Hermann dành thời gian bên gia đình và bạn bè trong buổi tiệc mừng em bé, dự kiến chào đời chỉ sau vài tuần nữa. Không lâu sau sự kiện đó, Ho nhận tin từ Murray. Việc điều trị của Abram không hiệu quả và tình trạng của ông xấu đi nhanh chóng. Murray nói ông đang trên đường đến Connecticut để nói lời tạm biệt cuối cùng.
Abram làm việc cho đến những ngày cuối đời và giúp chốt vòng gọi vốn mới nhất. Trong cuộc gọi cuối cùng với Ho, bà nói mình được truyền cảm hứng từ khả năng lãnh đạo của ông. Ông đưa cho bà “một danh sách tất cả những điều ông muốn tôi để mắt tới,” về cơ bản là vạch ra lộ trình phía trước. Với Ho, khoảnh khắc đó giống như ông đang để lại di chúc.
Yêu cầu cuối cùng của Abram với Murray là đảm bảo Conceivable giữ được chất lượng vượt trội ngay cả khi mở rộng quy mô.
“Ông muốn nói gì khi nói đến quy mô?” Murray hỏi.
“65% tất cả các ca sinh ra từ IVF là của Conceivable,” Abram trả lời.
Ngay trong tuần đó, một nhân viên Conceivable cũng tổ chức tiệc mừng em bé. “Giữa lúc đang ăn mừng,” Murray sau này viết cho hội đồng quản trị, “tôi nhận được thông báo từ luật sư rằng vòng gọi vốn đã khép lại và tiền đã được chuyển.” Vòng này nâng tổng số vốn Conceivable huy động được lên 70 triệu USD. “Mười phút sau, tôi nhận được tin nhắn từ con trai của Joshua.” Abram đã qua đời.
Năm tuần sau, tại Brooklyn, Hermann và Ho chào đón một bé gái khỏe mạnh và trở thành những bệnh nhân Mỹ đầu tiên của Conceivable có con. Công ty dự kiến sẽ chính thức ra thị trường tại Mỹ vào cuối năm nay.
Theo Bloomberg
Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn
https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/mot-startup-phat-trien-robot-ai-de-tao-phoi-nguoi-55960.html
Tặng bài viết
Đối với thành viên đã trả phí, bạn có 5 bài viết mỗi tháng để gửi tặng. Người nhận quà tặng có thể đọc bài viết đầy đủ miễn phí và không cần đăng ký gói sản phẩm.
Bạn còn 5 bài viết có thể tặng
Liên kết quà tặng có giá trị trong vòng 7 ngày.
BÀI LIÊN QUAN
Gói đăng ký