5 câu hỏi phải giải trong bài toán 1.500 tỉ USD đầu tư cho hạ tầng

BBWV - Trong chu kỳ hạ tầng 2026–2030, Việt Nam cần huy động khoảng 1.500 tỉ USD cho đường bộ, đường sắt, năng lượng, cảng biển và hàng không. Năm câu hỏi dưới đây sẽ cho thấy bài toán vốn, rủi ro và cơ hội đang được đặt ra như thế nào cho nền móng tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Ảnh: Cát Trương

Tác giả: Bloomberg Businessweek Vietnam

09 tháng 07, 2026 lúc 9:15 AM

Tóm tắt bài viết bởi

logo
  • Tại Vietnam Infrastructure Symposium 2026, các chuyên gia thảo luận về chu kỳ đầu tư hạ tầng 2026–2030 của Việt Nam với tổng vốn dự kiến 38,5 triệu tỉ đồng, tương đương 1.500 tỉ USD.
  • TS. Lê Duy Bình cho biết đầu tư công chiếm khoảng 8,5 triệu tỉ đồng (22%), phần còn lại 30 triệu tỉ đồng cần huy động từ khối tư nhân và các nguồn khác.
  • Việt Nam dự kiến đầu tư 803 ngàn tỉ đồng cho đường cao tốc và hơn 500 ngàn tỉ đồng cho hệ thống đường vành đai, cầu vượt tại Hà Nội và TP.HCM.
  • Việt Nam dự kiến chi gần 485 ngàn tỉ đồng cho hàng không và 350 ngàn tỉ đồng cho cảng biển, gồm các dự án tại Cần Giờ, Lạch Huyện và Trần Đề.
  • Về năng lượng, Việt Nam đặt mục tiêu đạt 150 GW công suất vào năm 2030 với 36% năng lượng tái tạo, cần nguồn vốn đầu tư ước tính khoảng 136,3 tỉ USD.

Chiều 9.7, Vietnam Infrastructure Symposium 2026 do Bloomberg Businessweek Vietnam tổ chức tại Thủ Thiêm diễn ra trong bối cảnh Việt Nam bước vào chu kỳ đầu tư hạ tầng thuộc loại lớn nhất trong lịch sử, với tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026–2030 dự kiến lên tới khoảng 38,5 triệu tỉ đồng, tương đương 1.500 tỉ USD.

Tổng quan đầu tư hạ tầng được TS. Lê Duy Bình, giám đốc điều hành Economica Việt Nam, trình bày trong bài phát biểu chính “Bức tranh hạ tầng giai đoạn 2026–2030” không chỉ giúp người nghe hình dung tổng thể các dự án quy mô như đường cao tốc, đường sắt, metro, năng lượng, cảng biển, hàng không, mà còn gợi mở năm câu hỏi chiến lược về chu kỳ đầu tư hạ tầng mới của Việt Nam.

1. Cân đối nguồn lực cho chu kỳ hạ tầng mới của cả quốc gia

Trong tổng vốn 38,5 triệu tỉ đồng giai đoạn 2026–2030, khoảng 8,5 triệu tỉ đồng (325 tỉ USD, tương đương 22%) đến từ đầu tư công, phần còn lại dự kiến đến từ khối tư nhân và các kênh vốn khác, theo TS. Lê Duy Bình. Điều này đặt ra câu hỏi đầu tiên: Việt Nam sẽ khơi thông lượng vốn khổng lồ còn lại như thế nào qua các cơ chế TOD, PPP, trái phiếu công trình, BT, FDI… mà vẫn giữ được kỷ luật tài khóa, không tạo ra những “đại công trường dở dang” trên bản đồ hạ tầng quốc gia?

2. Làm thế nào để khơi thông 30 triệu tỉ đồng vốn xã hội?

Các báo cáo gần đây đều cảnh báo: đầu tư công tăng mạnh giúp hạ tầng “đi trước một bước”, nhưng cũng kéo theo thách thức về nợ công, tiến độ giải ngân, chất lượng chuẩn bị dự án và năng lực thực thi ở địa phương. Làm sao để khu vực tư nhân vượt qua các rào cản, tiếp cận được nguồn vốn, để dòng chảy tài chính vào hạ tầng được khơi thông đồng bộ, sẽ là câu hỏi được đem ra thảo luận giữa hai góc nhìn: nhà sáng lập, tổng giám đốc Fiin Group Nguyễn Quang Thuân và giám đốc đầu tư từ một định chế tài chính có nhiều kinh nghiệm thu xếp vốn quốc tế Helen Han (IFC).

3. Hạ tầng giao thông tăng tốc, bài toán mới cho bất động sản công nghiệp và logistics

Giai đoạn 2026–2030, Việt Nam dự kiến xây mới 1.655 km và mở rộng 1.721 km cao tốc, với nguồn vốn khoảng 803 ngàn tỉ đồng, trong đó các trục ngang kết nối Tây Nguyên – miền Trung, Đông Nam Bộ – Đồng bằng sông Cửu Long giữ vai trò xương sống. Riêng hai siêu đô thị Hà Nội và TP.HCM có chương trình vành đai và cầu vượt sông với tổng vốn hơn 500 ngàn tỉ đồng, gồm 136 km vành đai 2–3, 207 km vành đai 4 ở TP.HCM; 112 km vành đai 4 và 200 km vành đai 1–3,5 ở vùng Thủ đô; cùng các cầu vượt kết nối tại hai trung tâm kinh tế lớn.

Hạ tầng mới sẽ thay đổi mạng lưới logistics Việt Nam thế nào, và mang tới cơ hội gì cho các trung tâm kinh tế lớn trong việc thu hút dòng vốn FDI 2.0 đang xem Việt Nam như một điểm đến hấp dẫn? Đại diện từ hiệp hội thương mại Singapore – nhà đầu tư FDI lớn nhất vào Việt Nam trong khoảng 5 năm qua – cùng lãnh đạo các doanh nghiệp đang quản lý, vận hành hạ tầng “cứng” lẫn hạ tầng mềm – công nghệ số – sẽ thảo luận về những thay đổi cần có trong phát triển hạ tầng nhằm đón đầu dòng vốn FDI thế hệ mới.

4. Phát huy vai trò cảng biển và hệ thống kết nối, hướng tới tương lai trở thành hub trung chuyển khu vực

Bên cạnh các dự án hạ tầng giao thông trên bộ, không thể bỏ qua các siêu dự án hàng không và cảng biển đang được định hình: gần 485 ngàn tỉ đồng cho hàng không để nâng công suất lên 278 triệu hành khách và 4,1 triệu tấn hàng hóa mỗi năm. Hệ thống cảng biển dự kiến nhận khoản đầu tư khoảng 350 ngàn tỉ với các dự án như siêu cảng Cần Giờ (128,8 ngàn tỉ đồng), cụm Lạch Huyện (35 ngàn tỉ đồng) và cảng Trần Đề (51 ngàn tỉ đồng). Việt Nam đã có hai đại diện góp mặt trong tốp 20 cảng container có hiệu suất tốt nhất thế giới năm 2025.

Tuy nhiên, không phải cứ đầu tư cảng biển là có thể hình thành trung tâm trung chuyển hàng hải khu vực, khi chi phí logistics tại Việt Nam đang cao gần gấp đôi mức trung bình toàn cầu. Ba đại diện là các nhà quản lý, khai thác cảng của Việt Nam và quốc tế, cùng một chuyên gia tư vấn hạ tầng, sẽ bàn luận về câu hỏi: làm sao lấp được khoảng trống giữa hạ tầng kết nối xung quanh và cảng biển, từ đó cải thiện hệ thống logistics, tạo thêm giá trị cho nền kinh tế?

5. Bài toán năng lượng: 150 GW, 36% xanh – có đủ cho mục tiêu tăng trưởng hai con số?

Một trong những nội dung trọng tâm của đối thoại hạ tầng là về năng lượng. TS. Bình cho biết đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu quy mô nguồn điện đạt 150 GW công suất, với 36% là năng lượng tái tạo, đồng thời hiện đại hóa lưới 500 kV, 220 kV và áp dụng Smart Grid liên vùng. Nhu cầu đầu tư điện giai đoạn 2026–2030 ước khoảng 136,3 tỉ USD, chưa kể 11,4 tỉ USD cho hạ tầng dự trữ xăng dầu, khí đốt nhằm bảo đảm an ninh cung ứng tương đương 90 ngày nhập ròng.

Việt Nam đối diện bài toán kép, vừa bảo đảm nguồn điện phục vụ mục tiêu tăng trưởng 10%/năm, vừa phải chuyển đổi dần cơ cấu nguồn điện sang hướng xanh hơn, sạch hơn. Ba nhà quản lý từ doanh nghiệp điện truyền thống, đại diện một đơn vị đang đầu tư dự án năng lượng mới, và một chuyên gia nhiều năm kinh nghiệm trong tư vấn và đầu tư năng lượng tái tạo sẽ thảo luận xoay quanh câu hỏi then chốt: Việt Nam cân bằng thế nào giữa an ninh năng lượng cho tăng trưởng hai con số và mục tiêu Net Zero?

Từ năm câu hỏi nêu trên, nội dung chủ yếu của cuộc đối thoại về hạ tầng, nền móng tăng trưởng, qua bài trình bày chính, các phiên thảo luận trong hội trường, cũng như chia sẻ tại BAM Studio, phỏng vấn trực tiếp tại sự kiện, sẽ tập trung mổ xẻ, phân tích chính sách, bàn luận cách khơi thông dòng vốn, quy hoạch chiến lược về năng lượng và logistics, nhìn từ nhiều góc độ như ngân hàng, quỹ đầu tư, doanh nghiệp.

Với cách tiếp cận đa dạng, nhiều chiều, các nội dung đi cùng số liệu hỗ trợ sẽ cung cấp thêm gợi ý để nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp, giới đầu tư xác định câu trả lời phù hợp. Sau tất cả, mỗi chủ đề là một luận điểm trong khung tổng thể đánh giá năng lực hấp thụ vốn, quản trị rủi ro và hiệu quả của bài toán "Hạ tầng: Nền móng cho tăng trưởng mới của Việt Nam" giai đoạn 2026–2030. Những gì được trao đổi hôm nay tại Vietnam Infrastructure Symposium 2026 sẽ gợi mở để bất kỳ ai tham gia cũng thấy rõ hơn vai trò của mình: Sẵn sàng đón lấy cơ hội đầu tư 100 năm có một, hay đứng bên ngoài.

 Vietnam Infrastructure Symposium 2026 do Bloomberg Businessweek Vietnam tổ chức chiều ngày 9.7.2026 tại Thủ Thiêm Riverstage (16Bis Nguyễn Thiện Thành, An Khánh, TP.HCM), nơi các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia và doanh nghiệp cùng bàn về tương lai hạ tầng Việt Nam.

Theo phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn

https://phattrienxanh.baotainguyenmoitruong.vn/5-cau-hoi-phai-giai-trong-bai-toan-1500-ti-usd-dau-tu-cho-ha-tang-59092.html

#hạ tầng
#Vietnam Infrastructure Symposium 2026
#Hạ tầng: Nền móng cho tăng trưởng mới của Việt Nam